|
"Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau dồi bao nhiêu tri thức về khoa học tự nhiên, về triết học Mác-Lê, về chính trị ... thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành tầng lớp trí thức tiểu tư sản bấp bênh ! Trở thành kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư ... thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học !. Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng ngược chiều với chất trí thức ! Đó là điều nghịch lý".....Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ - Hà Sĩ Phu 1988
"Khẳng định vai trò quyết định của tự do và phát triển không có nghĩa là khi có hai điều kiện ấy thì tự khắc sẽ có Bình đẳng và Bác ái mà không cần đến hoạt động khuyến thiện và nỗ lực tranh đấu của con người. Không thể lấy khát vọng thay cho qui luật, nhưng khát vọng đúng sẽ xúc tiến nhanh qui luật...." Đôi Điều Suy Nghĩ của Một Công Dân - Hà Sĩ Phu 1993
"Mọi hoạt động Tranh đấu của con người từ cổ chí kim , không có gì ra ngoài ý nghĩa của chữ QUYỀN CON NGƯỜI. "Quyền Con người" ngày nay đã trở thành vấn đề toàn cầu không nước nào có thể lẩn tránh, điều ấy đánh dấu một bước trưởng thành khổng lồ của văn minh nhân loại. Ở đâu có áp bức bất công, ở đâu con người bị đối xử phi lý đều có thể tìm nơi "Quyền Con Người" một điểm tựa để tranh đấu, ít nhất cũng là điểm tựa tinh thần. Mặt khác. từ ánh sáng chung nhất về "Quyền Con Người", con người có thể nhìn lại những trào lưu Tranh đấu của mình một cách có cơ sở khách quan, khoa học và sáng suốt hơn..." Chia Tay Ý Thức Hệ - Hà Sĩ Phu 1995
|
|
ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ CỦA MỘT CÔNG DÂN
Tôi tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, sinh ngày 22.4.1940 tại Hà Bắc, là phó tiến sĩ sinh học, công tác tại Viện Khoa Học Việt Nam.
Đất nước ta đang độ chuyển mình, cần sự góp sức chung lòng của mọi công dân. Tôi không có khả năng gì cũng xin thành tâm đóng góp phần mình bằng đôi điều suy nghĩ. Trong mười điều nói ra, chỉ mong may mắn có một điều dùng được.
I- Những Cách Tiếp Cận Khác Nhau Để Trả Lời Câu Hỏi Của Thời Đại
Sự sụp đổ của các thể chế xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của 2/3 số nước trong phe, của nơi quê hương, của nơi thành trì vững chắc
nhất, của những điển hình xuất sắc mà ta đang phấn đấu để vươn tới, lại là sự sụp đổ sạch sành sanh không thể cứu vãn,là sự sụp đổ kéo theo tức khắc sự
biến dạng của các nước còn lại.Vậy đấy là sự sụp đổ có tính cội nguồn, triệt để và toàn cục.
Vì thế một loạt câu hỏi tự nhiên cứ bật ra: Chủ nghĩa xã hội khoa học là gì? Biến cố kia là tất yếu không tránh khỏi hay do những thiếu sót có thể rút kinh nghiệm? Là khúc quanh thử thách để rồi lại phát triển mạnh hơn theo định hướng cũ hay đây là sự biểu hiện quyết định của sự cáo chung? Mấy nước còn lại, trong đó có nước ta sẽ đi về đâu và số phận nhân dân sẽ thế nào? Gia đình mình, cá nhân mình sẽ sống kiểu gì đây? Tiếp tục phó mặc đại sự cho những người lãnh đạo, mình là dân thì cứ sống theo, để rồi...đất nước vẫn tên là xã hội chủ nghĩa mà những kẻ kiếm bạc tỉ bằng cách mánh mung ngày càng nhan nhản, còn mình thì xin làm thuê không xong mà chẳng biết trách ai? Hay là rút kinh nghiệm, từ nay cứ sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi là xong? Các nước tư bản vẫn cứ tiếp tục đi theo ta lên chủ nghĩa xã hôi như lý luận Mác-Lê đã khẳng định, hay ta đang học theo họ làm tư bản? Hay ta cũng sẽ sáng tạo ra một thứ xã hội chủ nghĩa kiểu Việt Nam? Các nước XHCN ấy đổ là do họ làm sai Mác- Lê hơn ta hay làm đúng Mác-Lê hơn ta? Hay đây chính là lịch sử lại một lần nữa khẳng định đường lối đúng đắn của ta và sức sống vô địch của chủ nghĩa? v.v..
Những câu hỏi ấy người ta có thể tránh trả lời trước mặt người khác nhưng làm sao lại không tự đặt ra trong đầu? Và dù ta có tự dối mình mà tránh né sự trả
lời của ý thức thì cái vô thức cũng tự nó đã trả lời và chi phối hành vi của ta rồi. Chứng cứ là cả nước nhất loạt không ai tiếp tục sống như trước.
Vậy nên tôi nghĩ rằng,là một người Việt Nam có giáo dục, có văn hoá, không ai có thể cho phép mình tảng lờ, dấm dúi trong xó kiếm ăn một mình, mà phải đứng
ra giữa nơi sáng sủa, nghiêm túc nói rõ ý kiến của mình với sự huy động cao nhất của ý thức trách nhiệm và trí tuệ!
Nhưng sự suy nghĩ nên bắt đầu từ đâu? Tiếp cận vấn đề từ cửa mở nào? Đã có nhiều ý kiến đề cập đến vấn đề này nhưng tựu trung vẫn chỉ có hai con đường: đi từ thực tiễn đến lý luận hoặc từ lý luận đến thực tiễn, cuối cùng vẫn gặp nhau ở những điểm cốt lõi,bản chất.Những cách tiếp cận đa dạng khác nhau cũng chỉ khác nhau ở qui mô của cái lý luận hoặc thực tiễn ấy.
1. Đi Từ Thực Tiễn, Từ Hiện Tượng
Ghi nhận những sự kiện,những tình hình diễn biến của một xã hội, một giai đoạn lịch sử, một hệ thống thế giới...hoặc của nhiều xã hội, nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều hệ thống thế giới rồi so sánh,đánh giá,tìm cách giải thích rồi rút ra kết luận.Cách nhìn lưỡng phân (phe XHCN và phe TBCN ai thắng ai,...) cũng thuộc loại này, vì tình trạng hai phe cũng chỉ là hiện tượng nhất thời của lịch sử. Cách xét từng mặt, thống kê từng hiện tượng tuy có vẻ khách quan nhưng là phương pháp có độ tin cậy thấp vì dễ bị tình hình thời sự và cảm tính chủ quan làm cho thiên vị khi thống kê và nguỵ
biện khi
giải
thích.Những mặt tốt
xấu trong xã hội thường đan cài với nhau,một thể chế tốt nhất
vẫn có những mặt xấu,một thể chế xấu nhất cũng vẫn có những
mặt tốt.Nếu
không
có một
nhận thức hệ thống thì nhiều khi không thể phân biệt đâu là
mặt chính.Các hiện
tượng ở mặt phụ có thể chính là mặt trái tất yếu buộc phải
tạm chấp nhận,
bởi không
có một giải pháp xã hội nào hoàn hảo,nhưng mặt khác bên cạnh
sự tốt xấu
của thể chế còn có vai trò
của truyền thống,vai trò của nhân dân và quốc tế.
Người có
óc quan sát sắc sảo hơn thường không xem xét tình hình một
cách tràn lan mà tập trung vào một số nhân tố có tính
chất
chỉ thị
(indicateur).Ví
dụ : Cứ xem tình hình tự do báo chí,tự do ngôn luận là biết
mực độ của một nền dân chủ.Hiện tượng nhiều người xấu trở nên
tốt
là dấu
hiệu của
một thể
chế tốt,nhiều người tốt trở nên xấu là dấu hiệu của một thể
chế không tốt.Cứ thấy một người ngã,chục người tiếp bước
thì đó
là một phong
trào đang
lên, tìm
mãi không thấy người kế tục thì đó là một phong trào đang xuống. Xem
thái độ cởi mở tự nhiên hay dấu dấu diếm diếm thì biết là người
tử tế hay
kẻ gian phi.
Nhất ngôn là người quân tử. Tiền hậu bất nhất là kẻ tiểu
nhân .Khoan dung là sức mạnh của người trong lòng thanh thản.
Thái độ
thù địch thường
trực là
thế yếu của kẻ mưu điều bất chính... Cách xem tướng bắt
mạch này đối với con người cũng như xã hội là cách định hướng
nhanh
và sơ
bộ,sau
đó phải
được phối kiểm bằng sự khảo sát kỹ lưỡng và tư duy hệ thống.
2. Đi Từ Nhận Thức Hệ Thống, Từ Bản Chất của Quá Trình
Đây là sự nhận thức vấn đề từ đầu mối của nó,từ những qui luật
tổng quát đã được khoa học thừa nhận và phát triển.ở tầm
khái quát nhỏ
có thể xuất
phát
từ những qui luật mà tính bao trùm của nó chỉ trong một phạm
vi hay một mặt hạn chế nào đó. Ví dụ như qui luật đấu tranh
giai cấp
trong
xã hội
có giai
cấp, qui luật về sự phù hợp giữa sức sản xuất và quan hệ sản
xuất, qui luật phát triển
về quyền lực... Một cách hệ thống hơn nữa thì nhìn sự thay
đổi toàn diện của xã hội trong sự phù hợp với các nền văn
minh kế
tiếp nhau
của lịch
sử (như
văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học...) Nhưng
khái quát hơn cả là xuất phát từ những qui luật tổng quát
về sự tiến hoá của
nhân loại
, từ bản chất con người và xã hội. Đây là cách tiếp cận khoa
học nhất nhưng cũng khó nhất, chạm đến những quan điểm chi
phối cả
hệ thống
tư duy.Chỉ
bằng cách ấy mới có khả năng đạt tới những nhận thức chính
xác, nhưng ở độ khái
quát ấy thì sai một ly đi một dặm!
Việc
tách bạch các phương pháp tiếp cận cũng giống như việc phân
tích các động tác võ thuật cơ bản, khi ứng dụng tất nhiên
phải
phối hợp linh
hoạt, không
thể
cứng nhắc nhưng quán xuyến cả quá trình nhận thức phải là
tư duy hệ thống.
Xuât phát từ những phân tích thực tiễn sâu
sắc, và với một năng lực khái quát rất cao, Marx đã dựng nên một lý thuyết
tương
đối hệ thống, rồi
đem
nó trở
về với thực tiễn và dùng thực tiễn để điều chỉnh lại nhiều
lần. Marx và Lenine vừa là những bộ óc lớn vừa là những
chiến sĩ và nhà
tổ chức đại
tài. Về mặt
cá nhân những con người cụ thể dễ gì đã có người nào vượt
qua!
Nhưng sức vóc một con người dù vĩ đại đến đâu cũng
không thấm gì so với sức vóc một thời đại. Bên cạnh những phát
hiện lớn
lao, sự hạn chế
của
trí thức
con người thời ấy đã để lại trong học thuyết của các
ông những khiếm khuyết không
phải không căn bản. Điều trớ trêu nhất của lịch sử là
chính nhà triết học duy vật biện chứng và chống chủ nghĩa không
tưởng
lại trở
thành nhà
xã hội học
duy tâm, siêu hình và không tưởng rất điển hình. Những
kẽ hở ấy của học thuyết không phải không có những người
nhận
ra ngay
từ
đầu,và
cũng nguy
hiểm hơn
là cũng ngay từ đầu,nó bị cái mặt bản chất thiện của
con người lợi dụng,khai thác triệt để cho những lợi ích
và sự
nghiệp
cá nhân. Thế là xuất phát
điểm là tập thể mà lại thu được sản phẩm cá nhân cực
đoan. Xuất phát từ đạo đức
mà lại thu được sản phẩm phi đạo đức, chứ không phải
như sự ngộ nhận
của nhiều
người,rằng tình trạng phi đạo đức là do ta tôn thờ một
chủ nghĩa xã hội khoa học, quá đề cao lý trí nên hại
đến cái
tâm đâu!
Vấn đề là
chủ nghĩa xã hội
khoa học còn thiếu
khoa học, nhận thức chưa đúng qui luật, do làm sai qui
luật nên kết quả mới lộn ngược so với khát vọng.
Ở những năm cuối cùng của thế kỷ này,một đầu óc bình
thường cũng có thể được thời đại chỉ cho để nhìn thấy
sự thiếu
cơ sở khoa
học của
học thuyết
đó.Những
điều như thế chỉ có thể vạch ra rõ ràng bằng tư duy
hệ thống triệt để,mà ở một chừng mực nhất định tôi hy vọng
có thể
gợi ra được
những phần viết
sau
đây.
II- Suy Nghĩ về Bản Chất Con Người và Xã Hội
1. Con người khác với con vật, con người có sự tự nhận thức về mình,
về sự tồn tại của mình.
Điển hình cho cái nhìn con người một cách tự nhiên,
đơn giản là quan niệm con người của học thuyết Khổng-Mạnh
coi con người là đơn
vị cơ bản
cấu tạo nên gia đình,nhiều gia đình cộng lại thành quốc
gia, nhiều quốc gia cộng lại thành thế giới. Trong chuỗi
tổ chức ấy con người là những
cá nhân, với
tư cách là những đơn vị tự thân hoàn chỉnh,chiếm vị trí
gốc rồi toả ra xã hội. Thân có tu thì gia mới tề, gia
có tề
thì
quốc mới
trị, quốc
có
trị thì
thiên hạ mới bình được ! (lô gích này ta cũng gặp lại
trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh:muốn xây dựng
chủ nghĩa
xã
hội thì trước hết
phải
có những
con người xã hội chủ nghĩa!) ấy là những con người nông
nghiệp, con người của cái tâm. Cái trí còn rất sơ khai,còn
cái lợi của cá nhân
thì bị nén
lại. Ngay khi hình thành quan niệm này về con người đã
gặp bế tắc. Tu thân đến như
đức thánh Khổng, đạo đức đến như đức thánh Khổng mà không
được nước nào dùng, các quốc đều bất trị, thiên hạ
thì bất
bình, bởi
mô hình
con người
đạo đức (homo ethicus) chỉ
là con người của qui mô gia đình, làng xóm. Một người
hướng về hành động như Khổng Tử mà quan niệm này của
ông thì thật là không tưởng. Bệnh xã hội chủ
nghĩa không tưởng của nhân loại có thể đã âm ỉ từ trước
công nguyên. Chủ thuyết là đức trị, nói dân là quí ,rồi
mới đến xã tắc, còn vua thì xem nhẹ mà trong
thực tế thì thang giá trị luôn lộn ngược trở lại. Nền
đức trị chỉ thịnh vượng khi có một minh quân độc
tôn. Nhưng bất kể triều đại nào quân cũng chỉ
minh được lúc đầu, sau thế nào cũng thoái hoá biến chất.
Chỉ có đám lê dân là ngoan ngoãn tu thân, còn những kẻ
thống trị thì chẳng thấy ông vua nào
theo được Nghiêu Thuấn cả! Dân bao giờ cũng ham mê cái
lợi và tôn thờ cái tâm, nhưng thấp cơ thua trí kẻ thống
trị. Các vị vua chúa đều hiểu rõ ba yếu tố
ở con người,nên muốn khống chế phần con thì dùng cái
lợi, muốn khống chế phần người thì dùng cái tâm và rất
ngại nâng cao dân trí. Cứ như vậy con người
đạo đức bị chế độ phong kiến và nông nghiệp giam hãm
hàng chục thế kỷ.
Khi CNTB hình thành, quan hệ sản xuất
công nghiệp làm cho nhận thức về con người rung chuyển
tận gốc.Một
mặt, tính
cá nhân
của con
người phát
triển
mạnh, nhất là con người của cái lợi,nhưng mặt khác sự
ràng buộc của các cá nhân trong
guồng máysản xuất và tiêu thụ của xã hội cũng ngày càng
chặt chẽ.Thế là con người nông nghiệp, con người cá
nhân của
chế độ phong
kiến bị giằng
xé
mãnh liệt theo hai chiều ngược nhau,chiều cá nhân và
chiều xã hội. Kết quả là đến
thế kỷ 19 đã bùng ra hai xu hướng ngược hẳn nhau về nhận
thức bản chất con người: con người của phái Mác xít và con người
của
phái hiện
sinh.
Nhận thức về con người của phái Mác
Xít
Ưu điểm nổi bật của trường phái này là phát hiện ra tính
xã hội của con người. Quan hệ của xã hội với cá nhân
không
phải là quan
hệ của
số tổng
và các số bị cộng mà là quan hệ điều khiển,chi phối :xã
hội quyết định con người.Tiếc
rằng Marx đã cường điệu tính xã hội này đến mức cho
nó choán toàn bộ nội dung con người, coi con người
chỉ
là tập hợp
(ensemble) của
các quan
hệ xã hội
(1). Khi đã định nghĩa con người như
vậy thì nếu rút hết phần xã
hội ấy đi,con người chỉ còn là con số zero,là hư vô!
Vậy là duy tâm,siêu
hình và phi lý! Song quan điểm cực đoan này không
dừng ở đó.Con người đã không còn thuộc tính cá nhân ,chỉ
còn thuộc
tính
xã hội,
nhưng
xã hội theo
quan niệm
của Mác chỉ là những cuộc đấu tranh liên tiếp.Ông nói
:Lịch sử tất cả các xã
hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp!
(2).
Qui tất cả mọi hoạt
động xã hội của con người thành hoạt động đấu tranh
giai cấp thì nội dung con người cũng chỉ thu vào trong
nội dung
giai cấp,có
bản
chất là
con người
giai cấp. Nhận thức này về con người là cơ sở để thiết
lập nên chủ nghĩa duy vật lịch sử, là cơ sở để hoạch
định chương trình
cách mạng
vô sản và
xây dựng CNXH.Trong các tác phẩm kinh điển của chủ
nghĩa Mác Lênin,phần lớn nội
dung là dành cho vấn đề đấu tranh giai cấp, vấn đề con
người chỉ được nói tới một cách sơ lược.Sau này ông
Trần Đức Thảo
có thuyết
minh vấn
đề này
bằng quan điểm rằng :con người có hai bản chất : con
người giai cấp là bản chất
hàng một,con người nói chung là bản chất hàng hai.
(3). Việc tập trung tinh lực của con người vào cuộc giành
giật giai cấp,bỏ quên cả một thế giới phong phú nằm trong
cá
nhân và
không chấp
nhận có những
mặt của xã hội nằm ngoài giai cấp đã làm cho con
người trở nên nghèo nàn một
cách đáng sợ!
Học thuyết Khổng Tử lấy cá nhân làm
gốc,học thuyết Mác lấy xã hội làm gốc,nhưng gặp nhau ở một
yếu tố
chung
là đạo đức
(những
nhà
lý luận
Mác -Xít không
thừa nhận điều này). Nếu Khổng Tử lấy việc tu thân làm
gốc để toả ra làm tốt xã
hội, thì Mác lấy việc tu xã hội (làm cách mạng để thay
đổi quan hệ sản xuất )để mở đường cho việc làm tốt cá
nhân.Chỗ giống nhau
ấy là
do đều
xuất phát
từ tinh thần nhân văn cổ điển, coi con người là tính
bản
thiện, chỉ cần diệt điều ác (tu thân) hoặc diệt cơ chế
cá nhân (đánh
đổ CNTB) là
con
người hoặc xã hội sẽ trở nên thiện. Điểm giống nhau ở
tất cả
các trường phái nhân văn cổ điển là cần một đấng tối
cao tiêu
biểu cho
cái thiện
và toàn xã hội
chỉ được hướng vào đấng tối cao và chí thiện ấy thôi.Xã
hội bình trị của Khổng Tử sẽ được thực hiện nếu như
có một
minh quân
biết đặt
dân cao hơn
xã tắc ,xã tắc cao hơn ngôi vua.Xã hội ưu việt của Mác
cũng sẽ được thực hiện nếu có một đảng tiên phong chỉ
biết lấy
lợi
ích xã hội
làm lẽ
sống,ngoài ra
không còn một lợi ích riêng nào khác!(và sau khi dành
được quyền lực nó lại chủ động tổ chức xã hội sao
cho quyền lực ấy có thể tiêu vong dần đi!).Một đấng tối
cao lý tưởng như thế lúc nào cũng có mà lúc nào cũng
không có.Có,vì nó đã được trời hoặc lịch
sử trao sứ mệnh rồi, dân chẳng phải đi tìm,mà cũng chẳng
có quyền bầu chọn! Không có, vì giữa cõi trần tục này
kiếm đâu ra một thực thể lý tưởng phi lý
như thế?
Mác cũng như Khổng Tử đều không hiểu rõ con
người, đều mất cảnh giác trước mặt trái của con người, nằm
sẵn trong
con
người từ
bản năng xa
xưa,từ cõi
vô thức của nó. Quan niệm nhân văn cổ điển ấy nhân
đạo nhưng siêu hình,phi biện
chứng và cũng không duy vật nên dầu có được bổ sung bằng
hàng trăm giải pháp thực tế và dân chủ nó vẫn không thoát
ra khỏi
cái vòng
ảo tưởng
và độc tôn,độc
đoán.Xã hội đi từ cái tâm thì không tới được cái tâm.Trải
qua hàng triệu năm đau khổ con người mới nhận ra và buộc
phải chấp
nhận
cái nghịch
lý khó hiểu
và khó chịu đó.
Khi bàn về con người của phái Mác -Xít tôi không thể
không liên hệ đến con người của phái Khổng Mạnh mặc
dù có thể
Mác không
hề đọc
Khổng Tử.Trí
tuệ
luôn là cái chung của nhân loại,nó phản ảnh những giai
đoạn tất yếu của lịch sử tư tưởng nhân loại.Hai học thuyết
về
con người
ấy vừa
có chỗ
giống nhau
như in,vừa có chỗ ngược nhau,tương tự như phép biện chứng
của Mác Ănghen so với phép biện chứng Hegel vậy. Có thể
nói Mác
đã công
nghiệp hoá
con người
cá nhân đạo đức, nông nghiệp của đạo Khổng để nó trở
thành con người xã hội và con người kinh tế (homo
economicus)
trên cái
nền chung
nhân văn
cổ điển .
Nhưng,như đã phân tích ở trên,theo quan niệm của Mác
thì tính xã hội của con người là yếu tố quán xuyến,quyết
định. Khi
con người
đã
là con
người xã
hội thì yếu tố kinh tế của con người cũng phải mang
tính xã hội,do đó tư liệu sản xuất của con người cũng
phải
xã
hội hoá
, điều này
mâu thuẫn
với
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của chủ nghĩa tư bản,cho
nên phải phá bỏ chính chủ nghĩa tư bản để thực hiện sự
công hữu
hoá về tư
liệu sản
xuất.
Đến đây ta thấy xuất hiện những vướng mắc về logic:
-Mâu thuẫn giữa tính xã hội của sức sản xuất (trong
đó có con người ) và tính tư nhân của sự chiếm hữu
là mâu
thuẫn
xuất
hiện ngay
từ đầu của
CNTB,
ngay từ đầu đã khôngcó sự phù hợp giữa sức sản xuất
và quan hệ sản xuất thì CNTB phát triển sao được đến như
ngày nay?
Theo
Mác thì
mỗi phương
thức sản
xuất trong lịch sử đều phải có một giai đoạn hoàng
kim trong đó có sự phù hợp giữa sức sản xuất và quan hệ sản
xuất.Vậy CNTB không
có
giai đoạn
này
sao? Vai trò của CNTB nằm ở quãng nào?
-Có thực mâu thuẫn giữa tính xã hội và tính tư hữulà
mâu thuẫn loại trừ nhau không? Việc xác nhận mâu thuẫn
này có
trái ngược
gì với luận
điểm
cũng của
Mác về sự chín muồi và tan rã đồng loạt của CNTB trên
toàn thế giới không?
Nhận thức về con người của phái
hiện sinh
Hiện sinh không phải là một phái thuần nhất, nhưng
thống nhất trong xu hướng khám phá con người cá nhân
,và với
hướng này nó
đối lập
với tất cả
các môn phái triết học và tôn giáo trước nó và cùng
thời với nó.
Triết học và tôn giáo xưa nay đều đặt
cá nhân con người bên cạnh những cá nhân khác,với mối quan
hệ qua lại
và trong
trường tác
động của
các nguồn
sức mạnh
khác nhau như thần quyền,đức tín,lý trí,qui luật,đạo
đức,lý tưởng...nghĩa là có những điểm tựa cho con
người và không
thể có tự do hoàn
toàn cá nhân.
Thoát khỏi bao nhiêu trói buộc hà khắc
con người mới đạt tới độ tự do như con người của xã hội công nghiệp,lúc
ấy
con người
cá
nhân
mới có
điều kiện
và mới
dám nhìn vào bản thân mình,thấy mình hiện hữu và
có quyền chỉ huy con người mình.Nhưng trong khoảnh khắc
lịch
sử cởi trói
thiêng
liêng
ấy,cơn phấn
khích đã làm cho một bộ phận xã hội đi quá đà,ngỡ
mình đã được thả hoàn toàn tự do.Chủ
nghĩa hiện sinh là tuyên ngôn của con người cá
nhân,là một cuộc khởi nghĩa thất bại ,nó còn ấu trĩ nhưng
thiết tưởng chẳng
nên ruồng
bỏ,mà
chỉ nên thương
cho số phận con người (cũng như CN Mác -Lênin là
tuyên ngôn của con người xã hội!). Sự đối địch
giữa hai
thái cực của
nhận thức
là điều
dễ hiểu. Theo quan niệm hiện sinh,con người chỉ tồn
tại đúng như nó đang hiện hữu,như một thực thể đơn
độc riêng
biệt
bị vứt
vào trong
vũ trụ,nó
tự chiêm nghiệm,
tự hành động theo cá tính riêng của nó,rồi chết.Trong
trạng thái tự do không có điểm tựa ấy nó thấy mình
hoàn toàn
có quyền
chủ động lựa
chọn
con đường
anh hùng hay hèn nhát ,là con thú hay siêu nhân,hoặc
thờ ơ vô cảm hoặc chán chường buồn nôn .
Một bên
tự do đến mức chẳng thấy xã hội đâu cả,một bên lại
ràng buộc đến mức chẳng thấy cá nhân đâu
cả.Nói con
người
là sự tập
hợp tất
cả những
mối quan
hệ xã hội thì có nghĩa là mọi ý nghĩ và hành động
của cá nhân đều bị qui định bởi xã hội (xã hội
có giai
cấp thì
sự qui
định là do
giai
cấp!)không
còn có chỗ cho tự do cá nhân,tự do chỉ còn nghĩa
là tự giác làm theo qui luật,và trong bối cảnh
các quan
hệ
xã hội như nhau,không có cá
tính,như những đinh ốc trong một cỗ máy của công
nghiệp.
Một bên là sự lên tiếng của lý trí,ý thức,còn
một bên là sự lên tiếng của bản năng, tiềm thức,vô
thức,
siêu
thức.
Một bên muốn liên kết mọi người thành một tổ
chức để làm một cuộc cách mạng cho ngày mai,một bên
lại rũ
tung
những con
người
ra thành một
thế phân
tán vô tổ chức, vô mục đích, chỉ biết có hiện tại.
Đó là mâu thuẫn giữa người đang nhóm lửavà kẻ phá hoại vẩy nước lạnh vào.
Nhưng đối với chủ nghĩa tư bản thì cả hai con người
ấy đều là kẻ phá hoại.
Chủ nghĩa tư bản bắt
đầu phát triển đòi hỏi có một khái niệm con người tương ứng với thời đại
của
nó.
Chủ nghĩa Mác trả lời :Trong xã hội công
nghiệp con người phải la ø con người xã hội ,nó mâu
thuẫn với chủ nghĩa
tư bản nên
phải phá
bỏ
chính chủ
nghĩa tư bản đi !(Đây mới thật là gáo nước
lạnh đổ vào chủ nghĩa tư bản!)
Chủ nghĩa
hiện sinh trả lời :con người bao giờ cũng là con người cá nhân !Mặc xác cái
xã hội
vô nghĩa
của các
anh!tôi
làm việc
của tôi!
Cả hai câu trả lời đều negatif,chẳng câu
nào ủng hộ chủ nghĩa tư bản cả!Vậy mà chủ
nghĩa
tư bản
không bế
tắc,không
chết mà
phát triển
đến
ngày nay,và
phát triển như ngày nay! (Thực tế này không
hề chứng minh cho quan điểm rằng chủ
nghĩa tư bản là hoàn hảo,bất biến và vĩnh
hằng!).Bởi vì sao?Bởi lịch sử không chờ
các nhà lý luận
cho phép hay
không cho
phép nó.Ghép hai câu trả
lời negatif
nói trên đã thành một câu trả lời positif
cho lịch sử.Con người vừa là con người
xã hội vừa
là con
người cá nhân,hai
tính cách
đó
không
những không loại
trừ nhau mà còn là điều kiện của nhau.Muốn
xây dựng một xã hội đầy tính xã hội như
Mác mong muốn (và
như các
nước tư
bản tiền
tiến đang
đi tới
)hoàn
toàn không cần phá bỏ tính cá nhân và tính
tư nhân.Con đường xã hội
hoá không
phải là con đường xoá tư nhân mà là liên
hệ các tư nhân một cách xã hội!Sự liên
hệ đó gồm hàng
trăm
mối liên
hệ đa dạng
phức tạp,trực
tiếp
và gián tiếp,hữu
hình và vô hình,và hình thành dần dần,tương
ứng với trình độ khoa học của nền
sản xuất.Chủ
trương gom vào hợp tác.lấy qui mô hợp tác
xã làm thước để đo tính xã hội là hiện thân của một
ý niệm xã hội hoá còn sơ khai,cơ giới,thô thiển,phản
qui luật chứ không phải chỉ là sự nóng
vội.Một khi đã là điều kiện của nhau
thì sự thủ tiêu sở hữu tư nhân chính là
thủ tiêu khả năng xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Con
người và sở hữu.
Không thể hiểu hết con người nếu không
hiểu vấn đề sở hữu. Khác hẳn với con vật,nội
dung
con
người chỉ
xuất
hiện khi
xuất hiện
sự khẳng
định
cá nhân.Đó
là một trong những khác nhau căn bản giữa
xã hội và bầy đàn.Cơ sở vật chất của sự
tồn tại
con người
cá
nhân
là sở hữu
cá nhân và
sở hữu
tư nhân.Đây
là điều kiện tối thiểu để nó có thể tự
nuôi sống mình và độc lập tương đối trong
cộng
đồng.Cũng trên cơ sở
đó mà
nảy nở thành
nhân quyền,
dân quyền.
Nếu rút cái nền vật chất ấy đi mà còn đề
cập đến cá nhân,đến con người,đến nhân
quyền,dân quyền...thì
đích
thực là
người duy tâm
thứ thiệt rồi
chứ còn gì nữa?
Phạm trù sở hữu bao gồm
hai bộ phận :cái có và cái quyền.Có là
thực trạng sở hữu
đối với
các
tư liệu
sản xuất và
tư liệu tiêu
dùng cụ
thể,tiền và vàng cũng
thuộc bộ phận này .Quyền biểu thị khả năng
của cái có tất yếu sẽ chuyển thành hiện
thực trong
những
điều kiện
xác
định. Quyền
lực
chính trị,quyền
lực quân
sự...thuộc bộ phận này của sở hữu.Đối với
dân chúng thì quyền có thể được bảo đảm
bằng pháp
luật,nhưng
mức độ
bảo đảm này
tuỳ thuộc
vào nền
pháp
trị của
nước đó.
Hai bộ phận này của sở hữu có
thể chuyển đổi tương hỗ và tác động vào
nhau theo
quan hệ
tương sinh.Sự
chiếm
hữu
tư liệu
sản xuất
có thể tạo
ra quyền
lực rồi quyền lực lại làm gia tăng sự chiếm
hữu tư liệu sản xuất,bởi thế mối liên
kết giữa tiền và quyền luôn là mối nguy
hiểm nhất đối với công bằng xã hội.Muốn
chống
lại chỉ có
cách trung
lập
hoá và luân
phiên đối
với
quyền lực,nếu
không thì luật pháp cũng chỉ là hình thức.
Mác thật có lý khi truy sự bất công tới
tận hang ổ của nó là sự chiếm hữu,nhưng
hang
ổ đó có hai
buồng thông
với nhau
thì
ông lại
chỉ xử
lý có một.Mác
chỉ thực hiện sự chia đối với tiền (tức
tư liệu sản xuất )mà không chia quyền.Đấy
là một điều mất cảnh giác.điều thứ hai,tiền
sau khi chia lại đem tập trung lại thành
một cục,tức
là thủ
tiêu thành
quả vừa
đạt được,thủ
tiêu mất chính
cái hồn của sự công bằng.Thử hỏi cái gì
ngăn
không cho cái quyền lực
tập trung kia chiếm lĩnh lại cái tiền?
Quyền đem
tập
trung lại,tiền cũng đem
tập trung
lại,trao hết tiền cho quyền,với niềm tin
sắt đá rằng tiền sẽ được sử dụng công bằng!Chắc chỉ
có mẹ với
các con trong
gia
đình thì
may ra
điều ấy
mới thực
hiện được.
Mác đã sử lý rất không công
bằng đối với hai bộ phận của sự chiếm hữu.ở mặt chiếm
hữu tư
liệu sản
xuất
thì Mác đã
quá nghiêm
khắc,đáng
lẽ chỉ
nên chống
sự tập trung tư liệu sản xuất quá lớn thì
ông chủ trương xoá bỏ mọi sở hữu tư nhân,làm
mất
đi cái
động lực tự
nhiên của
đời sống.Với
quyền lực
xã hội
thì ông lại quá nuông chiều,cho nó quyền
chuyên chính với hy vọng rằng trong một
tương lai
xa xôi nó sẽ
tự tiêu vong.Chiếm
hữu quyền
lực mới
là sự chiếm hữu
triệt để nhất!Điều đó nhân loại đã có thừa
bài học,còn một thứ
quyền lực tự tiêu vong thì suốt lịch sử
hàng triệu năm chưa ló ra một tín
hiệu nào dể
dự đoán nó cả!
Tóm lại! khái niệm con người
không thể tách rời khỏi sự sở hữu.Sự sở
hữu tư nhân
về tư
liệu sản
xuất vừa
là cơ sở
vật
chất để duy
trì sự công
bằng
vừa là nguy cơ gây sự mất công bằng,đó
là hai mặt biện chứng của sở hữu.Sợ nguy
cơ phân hoá ,sợ qui luật thực tế ấy để
rồi
chọn một qui luật chỉ hình thành trong
ý tưởng,trong đó sự
sở hữu (lúc
này đã
là sở hữu
tập thể
)chỉ có mặt
tích cực,không còn mặt tiêu cực thì rõ
ràng vừa
duy tâm vừa không biện chứng.
2-. Xã hội
a. Xã hội là một hệ thống phân cực,không
phân tầng
Người là một sinh vật xã hội,tính có
tổ chức là một thuộc tính tự nhiên của
xã
hội nên
đương nhiên
có bộ
phận lãnh
đạo và bị
lãnh đạo,có
thống
trị và bị
trị.Chức năng thống trị đòi hỏi cực thống
trị những thuộc tính khác hẳn cực bị
trị.Trước hết nó là
kẻ thắng trong
một cuộc
đấu tranh
giành quyền
lực,có
năng lực tổ chức và có khả năng đưa cả
cộng đồng phát triển trong sự cạnh tranh
với các
cộng đồng
khác.Khi
xã hội cân
bằng,cái trí của xã
hội
tập trung ở cực
này. Ngoài sức mạnh của cái trí nó còn
sức mạnh của quyền lực và bạo lực để
duy trì sự ổn định của cộng
đồng mà
nó thống
lĩnh,đáp
ứng nhu
cầu chung
của
cộng đồng.Mặt khác,những người ở cực
thống trị cũng là những con
người cụ thể như nghìn vạn người khác,nên
họ không thể không có ham muốn
xử dụng tất
cả
sức mạnh nói trên để mưu lợi ích riêng
cho bản thân.Họ không thể không có những
ham muốn xử dụng mối quan
hệ tương sinh
giữa sự
chiếm hữu quyền lực
và chiếm
hữu tư liệu sản xuất và cuối cùng trở
thành những kẻ chiếm hữu lớn nhất và
hưởng thụ lớn nhất,trở
thành giai cấp thống trị đối lập với
giai cấp bị trị.Tính hai mặt ấy là chung
cho mọi nhà nước,xã hội càng dân chủ
thì càng nâng cao được mặt chung và hạn
chế được mặt riêng của nhà nước (chủ
nghĩa Mác coi nhà nước chỉ là sản
phẩm của mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hoà ,chỉ là công cụ bóc lột của
giai cấp thống trị (4)là chỉ nhìn thấy
một mặt).
Cực bị trị gồm những người sản xuất ra
của cải nhưng bị thiệt thòi trong sự
ăn chia,lại
là số
đông,khát
vọng của
họ trở
thành khát
vọng của con
người nói chung trong xã hội.Vì thế cái
tâm tập trung ở cực này (5).
Sự chênh
lệch về mọi mặt đó tạo nên một thế hiệu giữa hai cực,mọi cá nhân trong
xã hội
giống như
những điện
tử chuyển
động qua
lại giữa hai
cực đó.Các
cá nhân có thể chỉ chuyển động trong
khoảng trung gian cũng có thể chuyển
hẳn từ cực
này sang cực
kia,nhưng nhìn cả hệ
thống
thì lúc
nào cũng tồn
tại hai
cực đối lập.Chỉ ở hai cực thì sự liên
kết giữa các cá nhân mới chặt chẽ đến
mức thành
một
giai cấp hẳn
hoi
để có sức
mạnh đối
chọi với
cực bên
kia. Còn
trong khoảng trung gian sự liên kết
rất lỏng lẻo, rất
phân ly và phân tán nên không kết thành
những tầng chặt chẽ
được.Một hệ thống
như thế
là một
hệ thống
cân bằng động,có tính chất phân cực
chứ không phân tầng.Sự phân
chia giai cấp chỉ áp dụng được cho
những người thuộc hẳn về hai cực,áp
dụng cho những
phần
tử trung gian là không thích hợp. Quan
hệ giữa hai cực là mối quan hệ biện
chứng,vừa tương sinh vừa tương
khắc,như
cực nam cực bắc
của một thanh
nam châm.Nếu
ghét
cái cực
bắc mà chặt nó
đi thì chính tại chỗ chặt sẽ là cực
bắc mới.Nếu ghét cực thống trị mà thủ
tiêu
nó đi cho hết bóc lột,để một cộng đồng
gồm toàn những người bị trị cũ tự quản
lấy nhau,thì
tại
chỗ tự quản
đó sẽ sinh
ra cực
thống trị
mới,giai
cấp bóc lột
mới.
b. Hệ thống tổ chức của xã hội
loài người
Xã hội loài người gồm đơn vị nhỏ nhất
là cá nhân,rồi đến gia đình,dân tộc,quốc
gia,nhân
loại. Xét
trên bình diện
tiến hoá
toàn nhân loại
thì cá nhân,dân
tộc và nhân loại là những đơn vị căn
bản,chặt chẽ và ổn định nhất.Gia đình
và quốc
gia là những đơn vị kém ổn định hơn
và ngày nay đã có xu hướng giảm bớt
ý nghĩa.Trong
hệ
thống
tổ chức
từ thấp
lên
cao ấy
không thể xếp
giai
cấp như
một đơn vị chính
thức (tôn giáo cũng vậy)nhưng quan
điểm cực
đoan về giai cấp đã khiến giai cấp
trở nên một siêu
đơn vị
,dường
như những
người
vô sản
trên thế giới
có thể tập hợp lại thành một quốc tế
,chia thế giới thành hai phe theo giai
cấp! Sự quan trọng hoá tinh thần giai
cấp khiến nó
trở nên như một lưỡi dao phân tuyến
trong mỗi cá nhân,mỗi
dân tộc,mỗi
quốc
gia
cho tới nhân
loại;một tinh thần giai cấp trùm từ
nhân loại xuống mỗi cá nhân!Mà thực
ra thì
giai
cấp chỉ là những tập đoàn người nằm
trong vòng tay của quốc gia,dân tộc.Đề
cao
kinh tế và lợi quyền
thì giai cấp sẽ quan
trọng ,đề
cao văn hoá thì dân
tộc sẽ quan trọng,đề
cao trí tuệ thì cá nhân và nhân loại
sẽ quan trọng,đề cao đạo đức thì gia
đình (thậm chí cả làng xóm,quê hương)
sẽ quan trọng.
Quốc gia cũng là một
đơn vị tổ chức rất cần quan tâm.Trong
nhiều thế kỷ
quốc
gia đã là
đơn vị
cơ bản nhất,nó gắn
liền với sự hoàn
chỉnh
về lãnh
thổ,quyền
lực xã hội ,văn hoá tư tưởng là khoảng
không gian mà một thiên tử trị vì.Sự
cách biệt
thông tin và
khó khăn
giao
thông đã
khiến quốc gia
có vẻ lớn
như một thế giới,và lòng yêu nước cũng
lớn lao như tình yêu nhân loại bây
giờ (và tất nhiên phải yêu thiên tử
thì thiên
tử mới công nhận cho là yêu nước!).Ngày
nay cùng
với sự phát
triển quá mạnh
của phương
tiện
thông
tin và giao lưu
quốc
tế,với kinh tế thị trường toàn cầu,với
quyền cư trú ở nước khác và quyền thay
đổi quốc tịch,và nhất là
với
sự phát
triển của
trí tuệ
là yếu tố
phi quốc gia,hình
ảnh quốc gia đã mất linh thiêng dần.Lòng
yêu nước vẫn còn được coi là đạo đức
nhưng không còn là chuẩn
mực
đạo đức
tuyệt đối
để có thể
phủ
định những
khát
vọng chân chính khác.ở những nước càng
văn minh thì ý niệm quốc gia càng giảm
phần quan trọng.Sự hợp
nhất về
một số
mặt của 12
nước trong
cộng đồng châu
âu hiện nay là báo
hiệu của xu hướng đó.Mọi vách ngăn
sẽ được xoá bỏ dần,và cuối cùng sẽ
chỉ còn
là những cá nhân sống trong nhân loại.Tính
đại đồng ấy là kết quả của sự hoà nhập
của các quốc gia chứ không phải do
sự liên hiệp của giai cấp vô sản
trên toàn thế giới.
Xu hướng lịch sử sẽ là như thế,nhưng
sẽ là sai lầm rất lớn nếu áp dụng vội
vàng
tinh
thần phi
quốc
gia ấy,nhất
là
ở những
nước mà
-cả về
nhận thức,đạo
đức và tâm lý -lòng yêu nước vẫn còn
là một chủ nghĩa có giá trị,tích cực,thậm
chí vẫn
còn là
nguồn sức
mạnh quyết định của
xã hội.
III-.Suy nghĩ về qui luật tiến
hoá nhân loại
Mọi người đều nhất trí
rằng :người là một loài thống nhất và chặt chẽ,đúng
theo tiêu
chuẩn
của một loài
sinh vật nói
chung.Về
mặt
di truyền học,các
cá thể trong loài có khả năng giao
phối
một cách tự nhiên và con cái sinh
ra vẫn giữ
được khả
năng sinh
sản bình
thường.Về sinh
thái học,quan hệ
trong nội
bộ loài là quan hệ hết sức đặc biệt,gồm
hai mặt mâu thuẫn nhau
một cách biện chứng :một mặt,sự đấu
tranh sinh tồn trong nội bộ loài
là khốc liệt nhất,bởi
nhu cầu về điều kiện sống của các
cá thể đều giống hệt nhau .Mặt khác
quan
hệ trong loài là quan hệ
hỗ trợ,giúp
nhau
đấu tranh
chống các
yếu tố bên
ngoài.Mặt hỗ trợ là mặt chủ yếu nên
mặc
dù có cạnh tranh nhau,thậm chí có
sự hy sinh
của một số cá thể,mà tất cả vẫn
kết thành một khối tiến hoá thống
nhất,kết
quả cuối cùng là cả loài
vẫn phát triển.Những
nội dung
ấy của học thuyết
Darwin về đấu tranh sinh tồn,về chọn
lọc tự nhiên và tiến hoá
khi đem soi rọi vào
loài người vẫn giữ nguyên những giá
trị quí báu của
nó.Nhưng trong hệ lý luận
của cách mạng vô sản
thì học thuyết Darwin cũng như nhiều
giá trị khác của trí tuệ nhân loại
đã không thoát khỏi số phận bị công
kích
kịch liệt (6)trước khi chuyển sang
trạng thái mặc nhiên thừa nhận.Chống
học thuyết
đấu tranh sinh tồn (và cả học thuyết
di truyền Mendel-Morgan )không ai
mạnh hơn Stalin,nhưng trong hành động
thực
tế thì không ai tiến hành đấu tranh
sinh tồn quyết liệt hơn Stalin,và
chính điều đó đã khẳng định giá trị
của học
thuyết Darwin rồi.
Song loài người là một loài sinh
vật đặc biệt ở chỗ có lao động sản
xuất
và có tư
duy,nên
hai điều
đặc
biệt
ấy không
thể không
làm cho
sự đấu
tranh sinh
tồn và tiến hoá của loài người có
những bản sắc riêng.
1. Những quan
hệ qua lại trong xã hội loài người
Loài người gồm rất nhiều cộng đồng
trên khắp địa cầu,và gồm không
biết bao nhiêu
thế hệ,
bao nhiêu
thời đại
kế tiếp nhau.
Những
quan hệ giữa
những người
đang sống cùng thời là những quan
hệ ngang,cũng tức là quan hệ trên
trục
không gian.Quan
hệ giữa các thế
hệ,các
thời đại
kế tiếp
nhau là quan
hệ dọc ,cũng là quan hệ trên trục
thời
gian,là quan hệ tiến hoá hay thoái
hoá.
a. Những mối quan hệ ngang
trong xã hội loài người
a1. quan hệ bóc lột và bị bóc lột Sản phẩm người này làm ra,người
kia chiếm đoạt,đó là biểu hiện
trực tiếp
nhất và
phổ biến nhất
của cuộc
đấu tranh
sinh tồn
trong xã hội.Sự
bất
công này hiển
nhiên là có liên quan đến sự chiếm
hữu tư liệu sản xuất.
Nhưng, ngay
cả khi địa chủ tư sản đã bị quét sạch,không còn chiếm
hữu tư
nhân đối
với
tư liệu sản xuất,chính
phủ chỉ
ngồi tính
các chế độ
tiền lương
để trả
cho cán bộ thôi cũng thấy đây
là bài toán không tìm thấy đáp số
trực tiếp
và chính
xác được.Bản
chất
của khó khăn
là ở chỗ
: khi đã sống
chung trong
xã
hội thì con người liên quan với
nhau và liên quan với xã hội
bằng vô số
những quan
hệ
chằng chịt,trực
tiếp
và gián
tiếp,trước
mắt và lâu
dài,hiện tại và
quá khứ...Tất cả những mối duyên
nợ rắc rối ấy không dễ gì mà
qui thành giá trị lao động (Như
Mác
đã tính
trong
cuốn
Tư Bản)để
thanh
toán sòng
phẳng
trong một cuộc phân chia sản
phẩm cụ thể được .Nhưng cứ giả sử là
đã
tìm
được một
phương án qui ước nào đó mà mọi
người thoả thuận là công bằng,thì
sự công bằng ấy mới là công bằng
chết
,vấn
đề là sự công
bằng ấy có
làm cho sản
xuất phát
triển hay không? Như ta đã thấy
sản xuất không phát
triển mà đình trệ thì rồi lấy gì để tiếp
tục chia nhau,và sự
công bằng
ấy trở
nên vô
nghĩa!Nhưng thực
tế lại còn xấu hơn thế
bởi sự tham gia của quyền lực
vào quá trình phân phối.Từ xưa đến
nay
quyền
lực tự nó không bao giờ chịu
đứng ngoài bài toán phân phối của kinh
tế,trước
sau gì nó cũng tìm được mẹo để
phân phối
lại !Thế là sự công hữu hoá về
tư liệu sản xuất đâu có chống lại
được bóc lột?Lúc
ban đầu,sự công hữu quả thực
có tạo được thuận lợi cho sự
phân phối công bằng nhưng lại
bất lợi
cho phát
triển sản xuất,và nếu không thiết
lập được cơ chế dân chủ cho xã
hội thì sự
công bằng tạo được lúc đầu sẽ
bị thủ tiêu ngay,mà sự tập trung
tư
liệu sản xuất luôn có nguy cơ
gây ra sự tập trung
tuyệt đối của quyền lực và cản
trở sự hình thành cũng như sự
hoạt động của
cơ chế dân chủ.
Tóm lại bài toán phân phối phải
là bài toán gắn liền với phát
triển sản xuất
và bài toán
dân
chủ (tức
sự phân
phối quyền
lực) thì mới
giải
được.Không thể lý giải cơ chế
của sự bóc lột chỉ bằng tính
toán giá
trị
thặng dư
trong một bài toán tĩnh và thuần
kinh tế như Mác
đã làm (chưa kể những yếu tố
thuần kinh tế trong bài toán
ấy cũng
chưa đầy
đủ).
Bài toán động và tổng hợp
ấy,nhân loại vẫn đang loay hoay
tìm cách
giải,nhưng
mô hình
thực tế
có nhiều
khả năng dung
hoà
được các
mặt đối lập hiện
nay là : Song song với thị trường
mua bán sản phẩm tự do là một
thị trường
mua bán
sức lao động tự do.Thuận mua!
vừa bán! Chính trong cuộc vật
lộn hoà
bình ấy
mà sự hợp
lý sẽ được xác
lập trong
từng thời
khắc,những
sản
phẩm và
lao động
kém chất lượng sẽ bị đaò thải.Xã
hội phải có luật cho kẻ bị thiệt
thòi có
quyền đấu
tranh,có
chỗ
đấu tranh. Cơ
quan quyền
lực cần
được tách
ra
thành
một sức
mạnh trung lập,được xã hội thuê
làm nhiệm
vụ trọng tài.Trọng tài chỉ cần thổi còi
cho đúng luật, ngăn
cản những tình
huống quá đáng,thực
hiện
một
số việc công ích (như giáo dục,y
tế,nghiên cứu cơ bản,bảo vệ môi trường...)tuyệt
nhiên không được tham
chiến
trực tiếp
để kiếm
ăn thêm,và cũng không
cần vận
động hay dạy dỗ bên nào cả.Một
thị trường
có tính nhân bản phải giải quyết
ngày càng tốt vấn đề sở
hữu của
người lao
động,bao gồm cả hai
mặt của sở
hữu
là mặt tư liệu sản xuất,tiền
vốn và mặt nhân quyền!
Một mô
hình sinh động như vậy chính là sự
thể hiện qui luật
đấu tranh
sinh tồn
vào
xã hội
loài người,trong
đó
sự chọn
lọc tự
nhiên và chọn
lọc nhân
tạo đã nhập làm một,và không
có nó thì sự tiến hóa sẽ ngừng.Thiên
đường
của
nhân loại sẽ là một trường đấu
lý tưởng,trong đó mọi đối thủ
đều
có
điều kiện phát
huy hết tiềm
năng,và
người
có trí
tuệ hơn,có
năng
lực hơn,
có ý thức
hơn...được đảm bảo sẽ thắng cuộc,sẽ
được hưởng thụ nhiều hơn(và được
duy trì nòi
giống
nhiều hơn?)...và
xã hội như thế mới là xã hội
không còn bóc lột !
Mô hình ấy
cho thấy trong sản xuất cũng
như trong phân phối
luôn cần
một không
khí đấu
tranh hoà
bình liên
tục,đấy chính
là linh
hồn của
cuộc sống.Cuộc
đấu
tranh không ngừng ấy chỉ là để
giải quyết mối quan hệ ngang,tức
là giải
quyết sự
công bằng
giữa những
người
đang cùng sống chứ không
phải đấu
tranh,như vậy là làm cách mạng
để tiến thẳng tới một xã hội
mới về chất .Bởi
không
nhìn
cuộc sống bằng con mắt biện chứng
sinh động nên ta coi phong trào
đấu tranh
của công
nhân
trong xã hội tư bản
là hiện
tượng bất thường,bệnh
hoạn,khủng
hoảng không lối thoát,nên quyết
làm một cuộc đấu tranh sinh tử
cuối cùng, một
mất một còn,để loại
trừ đi một
vế,để từ đó về
sau không
còn phải
đấu tranh
như thế nữa!Kết quả là đã tạo
được những xã hội ngưng trệ,tĩnh lặng
và bị mất
hồn.Xét từ quan điểm sống
là đấu tranh
(lời
Mác )mà nói
thì
đấu tranh
như
thế là quá tả ở đoạn đầu và quá
hữu ở đoạn sau.ở đoạn đầu thì gây ra
những khủng khiếp không đáng phải có
ở đoạn sau
thì xã hội lại quá im lìm bởi
ta đã tước mất vũ khí đấu
tranh hợp pháp của chính nhân
dân lao động.
a2. Quan hệ xâm lược
và bị xâm lược
xâm lược cũng là sự áp bức bóc
lột,nhưng khác với sự bóc lột
trong nước,sự
bóc lột ở đây
có ranh
giới quốc
gia phân
định
nên nhìn
thấy rõ ràng,không
cần lý luận hay tính toán gì
cả,vấn đề là ở tình thế và vũ
lực thôi.Sự
phán
quyết của nhân loại đối với quan
hệ dã man này
đã
rõ ràng,không có gì phải bàn.
Nhưng đứng ra xa để nhìn,ta thấy
trong những nguyên nhân có nguyên
nhân về
sự phát triển
không đều
của nền văn
minh giữa
các nước.Và
ngược với
ý đồ
của nước đi xâm lược,quan hệ
này tự nhiên biến thành một phương
thức phát
tán nền
văn minh nhân loại. Kết quả là
ở một mức độ nào đó,độ chênh
lệch
về
văn
minh giảm
đi,và
điều
này lại trở thành một
trong những
nguyên nhân
để
loại trừ
dần nạn xâm lược trong thế giới
loài người.
Từ lịch sử đau thương
của một quốc gia bị nhiều kẻ
thù xâm
lược nhiều
lần,kéo
dài trên
nghìn
năm chúng
ta rút
được bài
học gì?
Niềm tự hào về truyền thống anh
hùng bất khuất đánh ngoại xâm
là niềm
tự hào chính
đáng, nhưng,lần
này,anh
hùng
bất khuất
mà
lần sau,lần
sau
nữa...vẫn phải anh hùng bất khuất
,nghĩa là vẫn không thoát khỏi
nạn bị xâm
lược!Vậy thì riêng truyền thống
chống ngoại xâm của
một dân tộc không đủ để cứu dân
tộc đó ra
khỏi
nạn ngoại
xâm.
Trong khi nước Pháp đã có
nền văn minh Công nghiệp mà vua
Tự
Đức
còn coi lời
Nguyễn Trường
Tộ tả
cái bóng đèn
điện
là lời
sàm tấu
thì nước
ta thua
là phải,và
dân tộc đã phải trả giá 80 năm
nô lệ!Điều căn bản là dân tộc
ấy phải
nâng nền văn minh của
mình cho
ngang
tầm các
nước bên
ngoài.Điều thứ hai là
phải theo
đuổi một chính sách ngoại giao
rộng mở và nhân hoà,lèo lái tránh
xa các
vực
thẳm chiến
tranh.
Chiến tranh
đã nổ ra thì
dẫu bên nào
thắng,
hân
dân cũng
là kẻ chiến bại .
Ngày nay,cả
đến chủ nghĩa thực dân mới cũng
phải thoái lui nhưng
nguy
cơ xâm
lược không
vì thế
mà đã hết.Cách
xâm lược
hiện
đại của thời
kinh
tế thị trường
toàn cầu có những cách đi vòng
vèo và độc ác của nó.Khái niệm
độc lập
cũng
không thể hiểu
đơn giản
như trước, nhưng
cách chống xâm
lược từ
xa vẫn không
có gì khác hơn là xây dựng một
cộng đồng dân tộc văn minh,giàu
mạnh.Dân
không
có tự do,hạnh
phúc
thì cũng
không giữ nổi
độc lập cho nước.Nước không
độc lập được với bên ngoài thì
dân càng
không thể có
hạnh phúc, tự do.
Đánh giặc cứu
nước cũng là để giải quyết mối
quan hệ ngang,không
nên
gọi đó là
cách mạng.
Cách mạng
là
quan hệ dọc, quan
hệ tiến hoá,là
sự chuyển
xã
hội sang một phương thức sản
xuất mới cao hơn,chứ không phải
sự chuyển
một
nước bị
đô hộ thành
nước độc lập
(như một số
người hiểu
lầm ):Dân
ta vốn có truyền thống yêu nước
rất cao (còn
truyền thống cách mạng thì phải
nhận là
dân ta chưa có truyền thống ).Nên
đã làm nên thắng lợi của hai
cuộc kháng
chiến
vừa qua.Chiến
thắng
ấy không thuộc
phạm trù
của CNXHhay
CNCS.Nhưng
học
thuyết Mác -Lenin về chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản
đã tham dự vào
công cuộc giải phóng dân
tộc ở nước
ta và
một số
nước khác
theo một
cơ chế
riêng.
Một học thuyết có chủ
định là đưa giai cấp công nhân
đào mồ
chôn
chủ nghĩa
tư bản để
xây dựng
chủ nghĩa
xã hội
lại chỉ
có tác dụng
trong
việc đưa giai
cấp Nông dân đào mồ chôn chủ
nghĩa thực dân,phong kiến để
bước vào
ngưỡng cửa
của chủ nghĩa
tư bản.Ví dụ một
đoạn cầu
thang
được xây
ra nhằm để đi tầng 2 lên tầng
3 nhưng cuối cùng
chỉ giúp ích cho một số người
đi tầng 1lên tầng
2 thôi!Hiệu quả phi lý ấy lại
không phi
lý chút nào,bởi cái tầng 3 và
cả đoạn cầu thang
mới xây
kia đều
kết cấu bằng vật
liệu ảo.Hầu
hết
những
người
đã ở tầng 2 thì nhìn rất rõ điều
này,cá biệt có ai định đi thử
thì té ngã ngay.Nhưng
ảo ảnh ấy lại làm
nức lòng
những
người
đang đứng
dưới
tầng 1,khiến
họ bỗng
có sức mạnh thần kỳ để vượt cái
đoạn cầu thang gỗ cũ kỹ từ tầng
1 mà lên tầng
2,đoạn này trước đây
họ đã
cố leo
thử
nhiều lần
mà không
leo
được vì nó quá
mục nát và còn bị đám người trên tầng
2 dí đầu xuống nữa.Họ định xốc
thẳng một lèo lên tới tầng 3
(cho
bọn người đáng
ghét ở tầng
2 nhìn
thấy mà sáng
mắt ra ), nhưng vừa lên tới
tầng 2 thì họ đã thấy rõ sự thực.Dẫu
sao đứng được ở hành lang tầng
2 cũng tốt hơn rồi. Lịch sử đã
đi lên một bước
(tuy sẽ phải trả giá về sau!)
Ngoài tác dụng động viên,thu
hút của cái mục đích giả tưởng,học
thuyết Mác
-Lenin
đã cung
cấp cho
chúng ta
một phương pháp
thâm nhập,vận
động và tổ
chức quần chúng tuyệt vời và
nhiều
chiến thuật hữu hiệu mà trước
đây các cụ Phan
Chu Trinh,Phan Bội Châu, Nguyễn
Thái Học...chưa ai có.
Có thể
nói chủ nghĩa xã hội khoa học đã không thâm nhập được vào
nhân loại
bằng
con đường
khoa học,nhưng
bằng con
đường
của lòng yêu
nước thương
nòi
,chống phát xít,chống thực
dân, giải phóng dân tộc.
a3. Quan hệ hỗ trợ,hợp đồng
Nhìn nhân loại theo cả tiến
trình lịch sử lâu dài thì
không có
gì đáng bi
quan.Theo thời
gian, những
quan
hệ bóc lột
và xâm
lược ngày
càng
giảm đi
độ khốc liệt,trong
khi mối quan hệ hỗ trợ hợp
đồng là mặt chủ
yếu của quan hệ trong nội
bộ loài ngày càng phát triển
rất rõ.
Sự hỗ trợ, hợp đồng vừa xảy ra theo cơ chế vô ý thức,
vừa theo
cơ chế
có ý thức.Sự
khuếch
tán
văn
minh
là sự lan
toả tự nhiên
và liên
tục
không có bàn
tay nào xếp đặt.Thậm chí
như trên đã nói,hoạt động
xâm lược là hoạt
động
chống văn minh mà còn có
tác dụng khách
quan
là phát tán văn
minh.Ngày nay,sự phát
triển nhảy vọt của kỹ thuật
tin học đã cho con người
từ khắp các nẻo địa
cầu khả năng thông tin với
nhau một cách
tức thời.Thông tin quyết
định nhận thức,nhận thức
quyết định văn minh.ngoài
ra sự
giao lưu và hợp tác toàn
diện giữa
các quốc gia đã giúp nhiều dân
tộc rút ngắn những k |