LÝ LUẬN     VĂN HỌC     BÌNH LUẬN     PHỎNG VẤN     VỤ ÁN LIÊN QUAN     NHÓM ĐÀLẠT    TIỂU SỬ

"Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau dồi bao nhiêu tri thức về khoa học tự nhiên, về triết học Mác-Lê, về chính trị ... thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành tầng lớp trí thức tiểu tư sản bấp bênh ! Trở thành kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư ... thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học !. Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng ngược chiều với chất trí thức ! Đó là điều nghịch lý".....Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ - Hà Sĩ Phu 1988

"Khẳng định vai trò quyết định của tự do và phát triển không có nghĩa là khi có hai điều kiện ấy thì tự khắc sẽ có Bình đẳng và Bác ái mà không cần đến hoạt động khuyến thiện và nỗ lực tranh đấu của con người. Không thể lấy khát vọng thay cho qui luật, nhưng khát vọng đúng sẽ xúc tiến nhanh qui luật...." Đôi Điều Suy Nghĩ của Một Công Dân - Hà Sĩ Phu 1993

"Mọi hoạt động Tranh đấu của con người từ cổ chí kim , không có gì ra ngoài ý nghĩa của chữ QUYỀN CON NGƯỜI. "Quyền Con người" ngày nay đã trở thành vấn đề toàn cầu không nước nào có thể lẩn tránh, điều ấy đánh dấu một bước trưởng thành khổng lồ của văn minh nhân loại. Ở đâu có áp bức bất công, ở đâu con người bị đối xử phi lý đều có thể tìm nơi "Quyền Con Người" một điểm tựa để tranh đấu, ít nhất cũng là điểm tựa tinh thần. Mặt khác. từ ánh sáng chung nhất về "Quyền Con Người", con người có thể nhìn lại những trào lưu Tranh đấu của mình một cách có cơ sở khách quan, khoa học và sáng suốt hơn..." Chia Tay Ý Thức Hệ - Hà Sĩ Phu 1995

Nhóm ĐàLạt - Bùi Minh Quốc

LƯƠNG TRI - SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH


Bản thảo  

BÙI  MINH  QUỐC

                                        LƯƠNG TRI

                                SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH

Ôi,tự do,tự do ! Chỉ cần thoáng nghĩ đến nó,   

chỉ cần hy vọng mong manh đến khả năng  bsp;bsp;

có thể có của nó là đã làm cho chúng ta

 như được chắp thêm đôi cánh, có phải   thế không ?

 ANTÔN  SÊKHÔP

 

 Không có một nhà văn nào lại có thể im lặng được.  

Nếu anh ta im lặng thì có nghĩa đó không phải  là nhà văn chân chính.

Còn nếu nhà văn chân chính mà im lặng, thì anh ta sẽ chết.

                                                                                    MIKHAI  BUNGACÔP

 

 

Cuốn sách này tập hợp các bài viết,phát biểu,thư ngỏ của tác giả trong một thời gian dài từ khi có chủ trương đổi mới tư duy,dân biết dân bàn… nên một số ý thấy cần phải nhấn đi nhấn lại trong các bài khác nhau,mong bạn đọc thông cảm.

 Chân thành cảm ơn.

BÙI MINH QUỐC

 

CUỘC SỐNG HÔM NAY

VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THƠ*

 

            Tôi không quan niệm đây là cuộc hội thảo về thơ bảy tỉnh miền Trung mà đây là cuộc gặp gỡ của những nhà thơ Việt Nam đang sống và làm việc trên giải đất bảy tỉnh miền Trung để trao đổi ý kiến về những vấn đề của thơ Việt Nam hiện nay , và qua đó góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước đầy gian truân được phát khởi từ đại hội Đảng lần thứ VI .

           Tất cả những người chân chính hiện nay cả trong Đảng và ngoài Đảng ,không ai không lo âu , đau đớn thậm chí phẫn nộ đến bức bối trước hiện trạng xã hội .  Tổ chức Đảng không trong sạch , hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước yếu , các quan hệ xã hội bị ô uế , hàng loạt bất công trong Đảng và ngoài xã hội tồn tại kéo dài , có những kẻ đầy tội lỗi vẫn được che giấu dưới những danh hịêu cao quý , những cương vị quan t rọng , và nói chung là một tình trạng xuống cấp lòng tin , xuống cấp đạo đức có thể nói là nghiêm trọng .  Có những nhân vật phản diện trong đời thực xã hội ta hiện nay đến Yagô của Sếchxpia cũng phải tôn làm thầy về sự xảo trá và vô liêm sỉ , mà ghê tởm làm sao, một số kẻ như vậy vẫn tự cho mình cái quyền đi ban phát những bài học đạo đức .

            Tình hình đó không thể chấp nhận được bởi nó hoàn toàn xa la thậm chí hoàn toàn trái ngược với lý tưởng của những người cộng sản , của tất cả những ai lương thiện trong cuộc đời này , cái lý tưởng thiêng liêng mà vì nó biết bao thế hệ cách mạng đã đổ máu không mảy may tính toán .  Dân tộc ta đã đổ hàng núi xương sông máu để giành độc lập nhưng không phải để trên đất nước độc lập này lại diễn ra cái cảnh “ kẻ ăn không hết người lần chẳng ra “ , “ dân có tội thì xử theo hình pháp , quan có tội thì xử theo lễ “

            Thực tế cay đắng ấy đã được đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI dũng cảm vạch rõ , và toàn Đảng , toàn dân dưới sự lãnh đạo của ban chấp hành trung ương đang xăn tay áo lên xốc lại đội ngũ , tổ chức một cuộc đấu tranh thật kiên quyết , thật khôn ngoan và nhẫn nại để thanh toán cho bằng được .

            Một số tờ báo đang đi tiên phong trong cuộc chiến đấu này .  Trên địa hạt văn học, một số kịch nói ,một số tác phẩm văn xuôi đang tác chiến có hiệu quả . Những phần tử thoái hoá biến chất , những kẻ xấu ác chui luồn trong hàng ngũ cách mạng không thể không cảm thấy cái ghế chúng ngồi bắt đầu rung chuyển, chúng không thể tự tung tự tác như trước . Những người tốt bắt đầu lấy lại được niềm tin , bớt mệt mỏi , bớt thờ ơ . Để có thể làm được người phát ngôn xứng đáng của cuộc sống sôi sục , đa dạng , phức tạp và xô bồ này , nhà thơ đương nhiên phải có phẩm cách , có bản lĩnh và năng lực nắm thật vững thứ ngôn ngữ đặc thù kỳ diệu không gì thay thế được là thơ . Hơn bao giờ hết , thậm chí hơn cả thời chiến , cuộc sống đang cần những nhà thơ chiến sĩ , mà cốt lõi của phẩm cách chiến sĩ không có gì khác hơn là lòng trung thực , là dũng khí bảo vệ chân lý đến cùng .  Thơ cần phải mở rộng khai phá ra mọi đề tài của đời sống xã hội cũng như thế giới nội tâm sâu kín của con người, nhưng trước hết thơ không thể quay lưng lại với yêu cầu bức bách hiện nay của cuộc đấu tranh xã hội . Những viên đạn ngôn từ đầy sức dồn nén của thơ cần phải tấn công vừa trực diện vừa không trực diện vào những phần tử cơ hội thoái hoá biến chất trong tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước , những kẻ tuy còn là đảng viên cán bộ nhưng thực chất đã mất hết chất cộng sản , chất cách mạng , đang hàng ngày nhân danh những danh hiệu cao quý ấy để mưu lợi riêng .  Bọn chúng có thể còn lọt lưới qua các cuộc phát thẻ đảng , các cuộc kiểm tra thanh tra , các toà án , nhưng nhất định các nhà thơ chúng ta không thể để cho chúng lọt lưới qua tòa án của thơ .

Thơ phải truy kích chúng đến cùng . Cho dù chúng còn tạm thời che giấu được tội lỗi để vênh vang ngồi chễm chệ trên giàu sang và quyền lực bất chính thì thơ cũng bắt chúng tự đối diện với chính mình , mở mắt ra kinh hoàng trước cái hố  thẳm của sự trống rỗng về tinh thần .  Quyền uy tối thượng ấy của thơ , dường như một số nhà thơ chúng ta đã quên mất .  Đồng thời thơ phải chống lại sự mệt mỏi ,sự thờ ơ ở những người tốt .  Thơ phải luôn có mặt bên cạnh những con người ngay thẳng đang bị oan trái , những người đang muốn cất lên tiếng nói trung thực của mình nhưng chưa đủ sức , thơ phải làm chỗ dựa đáng tin cậy cho họ trong những khoảnh khắc họ chợt cảm thấy mệt mỏi muốn buông xuôi trong cuộc đấu tranh đầy phức tạp .

            Nhưng có một vấn đề cũng không kém quyết định làsự lãnh đạo , chỉ đạo văn hóa nghệ thuật .  Đã một thời gian dài trong đời sống văn nghệ và đời sống xã hội chúng ta từng ngự trị một thứ quan niệm vừa dung tục vừa phiến diện trong cách đánh giá tác phẩm văn nghệ nói chung và tác phẩm thơ nói riêng . Hầu như thơ bị tước mất quyền được nói nhiều nghĩa – là cái sức mạnh riêng của thơ , đụng vào đâu cũng vướng những “kỵ , huý “ vô hình nhưng có sức trói buộc đáng sợ . Thơ hầu như buộc phải xa lạ với tinh thần phê phán , tinh thần hoài nghi (đương nhiên là hoài nghi khoa học ) . Mặc dù các nghị quyết đại hội Đảng đã từng đánh giá rất cao những thành tựu của văn nghệ trong hai cuộc kháng chiến , khẳng định sự tin cậy và tự hào của Đảng đối với đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng , nhưng trên thực tế , một số cán bộ lãnh đạo văn nghệ, một số cán bộ tuyên huấn , cán bộ tổ chức ,kể cả ở cấp cao , lại thường mang nặng một tâm lý nghi ngại nghi ngờ về chính trị, một cách nhìn đầy định kiến hẹp hòi và khá trịch thượng đối với văn nghệ sĩ . Tâm lý này ảnh hưởng bàng bạc vô hình trong toàn xã hội , có  khi hai người cùng lý lịch như nhau , quá trình trưởng thành như nhau , một người đi làm tuyên huấn hoặc tổ chức thì đương nhiên được coi là chính trị vững vàng hơn , nhiều tính đảng hơn người làm thơ .  Một bạn thơ của tôi ở Lâm Đồng đã nêu một hiện tượng có thực đáng phải xem xét : thường khi một hội đồng duyệt phim có thể thông qua  không khó khăn một bộ phim tư bản nội dung và nghệ thuật tầm thường , nhưng lại lật qua lật lại xoi mói từng dòng thơ của một tác giả “nội địa “  đã viết nhiều tác phẩm tốt va bản thân đã trải qua nhiều thử thách trong chiến tranh .  Đã từng xảy ra không ít những trường hợp quy kết thô bạo chụp mũ hồ đồ , xử trí độc đoán làm khốn khổ hầu cả một đời những tài năng qúy hiếm .  Tình trạng đau lòng này ảnh hưởng xấu đến cảm hứng sáng tác của nhiều nhà thơ , gây nên một sự ức chế bên trong kìm hãm năng lực sáng tạo .  Đó có lẽ cũng là nguyên nhân chủ yếu sản sinh và thịnh hành một thứ thơ nhàn nhạt ngòn ngọt vô thưởng vô phạt tuy luyến láy rất khéo , những tiếng ca be be có vần được dán nhãn hiệu chủ nghĩa lạc quan , tạo thành một thứ thuốc giảm đau nguy hại khiến công chúng quên mất nỗi đau thật nghiệt ngã của những căn bệnh xã hội đang cần gấp rút chữa trị mà bất cứ ai còn chút lương tâm chút trách nhiệm cũng không thể làm ngơ .

            Những quan điểm , cách nhìn và thái độ lỗi thời , phi mác xít trên đây cần phải được thanh toán triệt để .

            Tuy nhiên xin nhắc lại , điều quyết định vẫn là phẩm cách , bản lĩnh và năng lực của nhà thơ .

            Những nhà thơ thứ thiệt vẫn kiên định con đường mà họ tin là đúng đắn , cho dù có lúc họ thật đơn độc . Nhất định họ không lùi bước trong cuộc đấu tranh cho chân lý .  Xin kết thúc bài phát biểu bằng mấy câu thơ viết mười lăm năm trước trên đất Điện Bàn đầy thử thách :

            Điện Bàn ơi , trong lửa

            Mỗi ngày đêm người đẻ mấy anh hùng

            Ai đã qua đây nào biết lùi chi nữa

            Ai đã qua đây nào biết lùi chi nữa

 

            Nha Trang ngày 14-7-1987

_______________________________

*Tham luận tại cuộc hội thảo của các nhà thơ Việt Nam ở bảy tỉnh miền Trung .

 

 

 

NGƯỜI TỐT NHIỀU HƠN KẺ XẤU,

ĐẢNG VIÊN PHẦN LỚN CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG,

VÌ SAO TIÊU CỰC VẪN TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN?*

 

 

             

            Một nhà trí thức đã sống nhiều năm ở Pháp và trong vùng địch tạm chiếm trước đây, có lần tâm sự với tôi : hồi ấy những chuyện bất công , những hành vi bất nhân , thất đức diễn ra hàng ngày ở khắp mọi chốn , phơi bày nhan nhản trên mặt báo ,người ta xem đó là sự thường , là lẽ đương nhiên của cuộc đời . Cách mạng về , đem theo một niềm kỳ vọng lớn vào chế độ mới , bởi vậy chỉ thấy một điều oan trái nhỏ , một vụ tham ô , hối lộ , hoặc một việc làm xấu trái với lời nói tốt của một người cách mạng nào đó , cũng nhức nhối tâm can không chịu được , bởi niềm kỳ vọng bị tổn thương , lòng tin bị sứt mẻ .

            Lòng tin lớn bao nhiêu thì sự phẫn nộ càng dữ dội bấy nhiêu.

            Là một đảng viên , mấy năm qua lòng tôi vẫn luôn day dứt trước một câu hỏi lớn : trong xã hội , người tốt vẫn nhiều hơn kẻ xấu , trong đảng , phần đông đảng viên ta có đạo đức cách mạng, vậy thì vì sao tiêu cực lại ngày càng phát triển nghiêm trọng?

            Suy nghĩ mãi , một lần qua câu chuỵên trao đổi với một đồng chí cách mạng lão thành , tôi mới nhận ra rằng nguyên do chính là ở chỗ sự thoái hoá biến chất đã diễn ra ở ngay những người có chức , có quyền , kể cả một số người có chức trọng quyền cao trong tổ chức Đảng va bộ máy nhà nước .

            Đảng ta có công lớn đối với sự nghiệp của Tổ quốc , của nhân dân . Đã có biết bao đảng viên và cán bộ lãnh đạo của Đảng hấp thụ và kết tinh được tinh hoa đạo đức của nhân dân , nêu những tấm gương còn sáng mãi của người đảng viên cộng sản  . Cũng có rất nhiều những người dân thường , một thời kỳ đã sống như những người cách mạng chuyên nghiệp . Đảng sống trong lòng dân , dân nuôi dưỡng bảo vệ Đảng và làm theo Đảng . Quan hệ Đảng tin dân , dân tin Đảng được nẩy sinh từ xương máu và quyện chặt bởi xương máu .  Niềm tin yêu của dân đối với Đảng hồn hậu biết bao , trong sáng biết bao ! “Ơn Đảng , ơn Chính phủ “ … có hồi đã là câu nói đầu miệng rất chân thành của mỗi người dân .  Đấy là một tình cảm đẹp , nhưng về mặt nhận thức lại là một sự ấu trĩ lệch lạc hết sức tai hại .  Người dân đã quên mất công lao vĩ đại của chính mình đối với thành quả cách mạng . Đảng được thần thánh hoá thành một cái gì ở bên trên tất cả ban phát ân huệ xuống và dần dần Đảng được thần quyền hoá . Công tác tuyên truyền giản đơn một chiều đã củng cố ngày càng vững chắc tâm lý này trong quần chúng .  Đồng thời cũng nẩy sinh quan niệm đồng nhất đảng viên với Đảng , đồng nhất cán bộ lãnh đạo với Đảng .  Ở nhiều hội nghị , sau khi một cán bộ lãnh đạo cấp trên phát biểu thì người lãnh đạo cấp dưới lập tức cung kính đáp lại rằng xin tiếp thu những ý kiến đó như những huấn thị của Đảng , mặc dù có trường hợp đó chỉ là những ý kiến cá nhân rất chung chung hoặc thậm chí rất ngớ ngẩn . Và nếu có ai có ý kiến trái với một cán bộ cấp trên nào đó thì liền bị xem là thiếu tính Đảng , thậm chí còn bị chụp là chống Đảng . Nhân dân ta, Đảng viên ta vốn vô cùng tin yêu Đảng , trong chiến đấu đã từng đưa ngực ra trước lưỡi lê kẻ thù mà không hề run sợ , duy chỉ sợ nhất một điều là mang tiếng chống Đảng , sợ cho bản thân mình một phần , phần nữa sợ liên luỵ cho con cháu mình . Tâm lý đó “ tiện lợi “ cho những kẻ thoái hoá, biến chất đang nắm giữ chức quyền biết bao . Rồi những thứ luật bất thành văn trái với kỷ cương của Đảng và pháp lụât Nhà nước không biết tự bao giờ cứ ngầm xuất hiện và lưu hành một cách tự nhiên ; cùng với hiện tượng đó là sự xuất hiện những nhân vật tự cho mình được độc quyền chân lý và độc quyền đi ban phát chân lý , dần dần họ được tạo dựng và khôn khéo tự tạo dựng thành những “đấng” không ai dám đụng tới lông chân , đứng ngoài vàđứng trên kỷ lụât Đảng , pháp luật nhà nứơc . Đây quả là một thứ siêu đặc quyền đặc lợi . Ở các cơ sở Đảng mà những “đấng” này cầm nắm , không thể tồn tại sự phê bình từ dưới lên , chỉ còn tồn tại một bầu khí sùng kính ngây thơ hoặc tôn kính giả tạo ,hoặc nịnh bợ xấu xa , có thể nói ở đây nội dung sinh hoạt của một tổ chức Đảng , một cơ quan cách mạng cũng đã thoái hoá biến chất luôn , mặc dù mọi sự bề ngoài diễn ra đều đúng

 “ quy cách “ , các cuộc trưng cầu ý kiến , các cuộc bình bầu , các cuộc bỏ phiếu đều có vẻ “dân chủ” . Quan hệ phong kiến gia trưởng đã thay thế quan hệ cách mạng . Cơ chế quan liêu bao cấp tồn tại quá lâu ( do quán tính và do cả sự trì níu có ý thức ) , đã dần dần hợp pháp hoá và vật chất hoá quan hệ ấy bằng những tiêu chuẩn hưởng thụ phi lý , tuỳ tịên cùng vô số những kẽ hở cho các bàn tay móc ngoặc .  Kiểu ứng xử thường gặp là ban phát và xin xỏ.  Thỉnh thoảng có một ai đó dám nói thật về thực trạng tệ hại này thì “đấng” kia chỉ cần thảy lẹ cái mũ “chống Đảng”vào đầu anh ta là lập tức mọi sự lại im re đâu hoàn đấy .  Đa số quần chúng tốt trở nên hoang mang, rồi thờ ơ và mệt mỏi , giảm sút lòng tin .  Người trung thực dám nói thẳng rơi vào sự đơn độc , tâm trạng bi phẫn , dũng khí mỏi mòn . Quyền lực đen tối của kẻ thoái hoá biến chất đương chức được củng cố vững chắc thêm .   Và ở giữa hai lực lượng này , lăng xăng , lầy nhầy chuồi qua chuồi  lại những phần tử cơ hội mình trơn như lươn . Bọn thoái hoá biến chất một mặt ra sức lợi dụng tâm trạng thờ ơ mệt mỏi của quần chúng , mặt khác ngấm ngầm cấu kết rất chặt với bọn cơ hội bên trong và bọn buôn gian bán lậu bên ngoài .  Chúng nó ranh mãnh vô hiệu hóa các nghị quyết , chỉ thị của Đảng trước đây về chống tiêu cực , có khi chúng dùng ngay các nghị quyết , chỉ thị đó đá gọn trái banh “tiêu cực” về phía người tích cực , và ở một số nơi chúng trở nên nhiễu nhương đến mức cả công an , kiểm sát , tòa án cũng trở thành công cụ của chúng để bao che cho kẻ có tội , hãm hại người trung trực vô tội .  Còn  ai làm méo mó hình ảnh người cộng sản , hình ảnh chủ nghĩa xã hội khủng khiếp hơn bọn chúng ?

            Tất cả mọi đảng viên chân chính, mọi người dân lương thiện không ai không lo lắng trước cái tai hoạ lớn gây ra bởi một nhúm kẻ thoái hoá biến chất còn nắm giữ chức quyền trong tổ chức Đảng và bộ máy Nhà nước này .

            Nghị quyết 04 của Bộ chính trị ra đời đã đáp ứng một yêu cầu cực kỳ gay gắt của thực tế khách quan , một mong mỏi bức thiết sâu xa của đại đa số đảng viên và quần chúng .  Đây là lời tuyên chiến đanh thép , cũng là phương hướng kế hoạch và biện pháp của một cuộc chiến đấu nhằm thanh toán những phần tử đã trở thành kẻ phá hoại nguy hiểm nhất từ bên trong của cách mạng .  Cuộc chiến đấu sẽ quyết liệt phức tạp và dai dẳng , đương nhiên rồi. Thực tế vừa qua cho thấy trong hầu hết các vụ việc tiêu cực nghiêm trọng mà báo chí nêu lên đều được phát hiện từ quần chúng , những phần tử tiêu cực hầu hết đều không hề tự giác tự phê mà thường la đối phó rất ngoan cố bằng nhiều thủ đoạn , còn một chút quyền lực nào trong tay còn đối phó cho đến lúc bị công luận và pháp luật dồn tới chân tường .  Cuộc chiến đấu chỉ có thể giành được thắng lợi nếu kết hợp được sức mạnh tổng hợp : sức mạnh của quần chúng được thực sự phát động , sức mạnh của công luận sắc bén ,sức mạnh của luật pháp đồng bộ và chặt chẽ , dưới sự lãnh đạo sáng suốt , chỉ đạo sít sao của Đảng mà nòng cốt là một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt không vướng tiêu cực , có ý chí sắt đá , có tư tưởng đổi mới triệt để và mưu lược khôn ngoan .

            Có thể nói đời sống vật chất hiện nay còn thiếu thốn , nhưng nếu mỗi ngày qua đi mà có thêm một người oan trái được giải oan , một kẻ bất nhân thất đức bị trừng trị dù chúng ở cấp nào , một bất công bị xóa bỏ thì chúng ta cảm thấy đời sống đỡ cực đi một phần , lòng tin lại được bồi đắp thêm một ít .

            “Hôm nay ta làm gì để diệt thêm một tên Mỹ?” –có thời vận mệnh dân tộc đã thôi thúc mỗi người với câu hỏi bật lên tự đáy lòng ấy . Giờ đây tôi thiết nghĩ , mỗi con người chân chính không thể không tự hỏi mình mỗi ngày : “Hôm nay ta làm gì để loại ra khỏi cơ thể Đảng và Nhà nước bớt đi một con ký sinh nhơ bẩn ?”

 

___________________

 *Báo Lâm Đồng Xuân Mậu Thìn 1988

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THỰC TÂM ,THỰC TÂM ,THỰC TÂM *

 

            Thực tiễn mấy năm qua đã khẳng định nếu không có cuộc đấu tranh dũng cảm , nhẫn nại và khôn ngoan của báo chí thì nhiều vụ việc tệ hại trái hẳn với bản chất của chủ nghĩa xã hội đã xảy ra trong tổ chức Đảng va Bộ máy Nhà nước ,làm giảm sút nghiêm trọng lòng tin của nhân dân khó có thể được làm sáng tỏ và giải quyết ( tất nhiên chỉ mới bước đầu ) .Nhưng những vụ vịêc báo chí đã nêu cũng chỉ mới là một phần có lẽ còn rất nhỏ so với toàn bộ sự thật kinh khủng . Ngay đối với cái phần nhỏ đã được nêu lên ấy hầu hết vẫn bị rơi vào sự im lặng kéo dài không thể chấp nhận , hoặc sự trả lời chiếu lệ , né tránh ,hoặc giải quyết nửa vời .

            Số lượng các tờ báo hăng hái đấu tranh chống tiêu cực cũng chưa nhiều .Theo con số của đồng chí Trần Trọng Tân , trưởng ban Tuyên huấn Trung ương cho biết cách đây hơn một năm thì có độ 30 tờ trong tổng số hơn 300 tờ . Hơn một năm qua , con số ấy tăng

lên được bao nhiêu ; chất lượng , hiệu quả của báo chí tham gia đấu tranh chống tiêu cực có được nâng lên không ?

            Vừa qua báo chí thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác hội thảo nhân dịp một năm thực hiện chỉ thị 15 của Ban bí thư về sử dụng báo chí đấu tranh chống tiêu cực , đã báo động rằng tình hình đấu tranh chống tiêu cực trên mặt báo có chựng lại .

            Do đâu? Do đội ngũ phóng viên và nhất là do đội ngũ tổng biên tập giảm sút ý chí ? Do cấp uỷ thiếu trách nhiệm ,thiếu quyết tâm hoặc thiếu thực tâm trong việc sử dụng báo chí đấu tranh chống tiêu cực ?  Đó là những câu hỏi không thể không đặt ra và cần phải được trả lời , mà chừng nào chưa được trả lời bằng hiện thực thì quá trình khôi phục lòng tin của nhân dân  còn ở trạng thái bấp  bênh   .

            Trong bối  cảnh đó người ta thấy diễn ra một việc khiến dư luận ngạc nhiên: ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam ra nghị quyết phê phán tuần báo Văn Nghệ đã mắc những khuyết điểm lệch lạc nghiêm trọng . Ngạc nhiên , bởi vì từ hơn một năm nay báo Văn Nghệ được đông đảo bạn đọc cũng như giới báo chí coi là một trong những tờ báo đi đầu trong đổi mới . Sự khởi sắc của văn nghệ từ sau khi có nghị quyết 05 của Bộ chính trị như nhận xét mới đây của Ban bí thư , hẳn không thể thiếu vắng hình ảnh đậm nét của báo Văn Nghệ .

            Người ta thắc mắc chờ đợi những dẫn chứng cụ thể của ban chấp hành Hội Nhà văn về bản án “ lệch lạc nghiêm trọng “ đối với báo Văn Nghệ . Và khi đọc bản tin chi tiết của ban thư ky Hội đăng trên báo Nhân Dân ngày 2-10-1988 thì lại càng ngạc nhiên hơn nữa . Bản tin chỉ cho biết một cách chung chung và chiếu lệ về những ưu điểm của báo Văn Nghệ “ có một số đóng góp trong sự nghiệp đổi mới “ .Một số bài phóng sự và bài ký tốt như : Lời khai của bị can , Cái đêm hôm ấy …đêm gì . Người đàn bà quỳ . Chuyện như đùa … chỉ được nêu ra để khen bằng một câu : “đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong bạn đọc “ . Không , tầm quan trọng và tác dụng của những bài đó lớn hơn thế nhiều . Về những dẫn chứng nêu ra để kết án thì thật khó thuyết phục . Chả lẽ trước những thực trạng phi lý như trong bài ký Tiếng đất , trước tội ác của một công an viên nọ như một trang thơ đã nói đến , mà người viết va người đọc không cảm thấy phẫn nộ thì thật đáng sợ cho tình hình đạo đức  xã hội biết chừng nào !

 

                       

Tôi

      gào thét

                   trước những chuyện thế này

Tôi đang ở đâu đây

                                trong lòng cơ quan chính quyền nhân dân đỏ

                                                               hay trong pháp đình tôn giáo

                          trước cách mạng tháng mười Nga ?

            (MAIACỐPXKI –1926 )       

      Cứ theo cách nhìn của ban chấp hành Hội Nhà Văn thì trước hết Maiacốpxki phải bị kết tội là “ gợi những tình cảm hằn thù và kích động “, là làm “ đổ vỡ lòng tin vào chủ nghĩa xã hội “ . May thay , số đông người viết và người đọc ở ta hiện nay cũng như Maiacốpxki ở Liên Xô trước kia do luôn luôn yêu tha thiết và tin mãnh liệt vào chủ nghĩa xã hội đích thực nên không thể không nói to lên sự phẫn nộ của mình trước tất cả những kẻ đã nhân danh Đảng , nhân danh chính quyền nhân dân , nhân danh chủ nghĩa xã hội gây nên bao tội ác mà một số bài trên báo Văn Nghệ ( kể cả các bài Lời khai của bị can , Cái đêm hôm ấy …đêm gì , Người đàn bà quỳ , Chuyện như đùa …) chỉ mới thể hiện một phần rất nhỏ . Chỉ có ban chấp hành Hội Nhà văn là sợ hãi trước sự phẫn nộ chính đáng đó . Chả lẽ ban chấp hành đứng về phía muốn che chắn cho những tội ác kia chăng ? Tưởng không phải là thừa khi nhắc lại ở đây câu nói này của Dostoievski:” Cái ác nếu được ý thức không phải với một thái độ ghê tởm , sẽ chỉ đẻ ra cái ác lớn hơn .”

            Truyện ngắn “Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp có vẻ được coi như một chứng cứ quan trọng trong bản án “ lệch lạc nghiêm trọng“ kết cho         báo Văn Nghệ . Tôi cho rằng trước hết đây là một tác phẩm văn học có quyền được công bố , và việc trao đổi ý kiến để đánh giá tác phẩm này là một quá trình chưa nên vội kết thúc , ban chấp hành  Hội Nhà văn cũng không thể tự cho mình cái quyền nói tiếng nói cuối cùng bằng lá phiếu đa số trong nội bộ mình . Tôi thuộc về phía cho rằng không thể đồng nhất Quang Trung    trong

Phẩm tiết” với Quang Trung trong lịch sử. Mà ngay đối với Quang Trung trong lịch sử , tôi cũng không quan nịêm hễ là anh hùng dân tộc thì “cái rắm cũng thơm “ . Xin hãy cho tôi những sử liệu chứng minh rằng Quang Trung tuyệt đối không hề có lúc nào đó không mê sắc đẹp ,không thô bạo , không thích quà biếu và không dùng quyền uy để trừng phạt kẻ đã biếu mình đồ giả . Mà nếu có như thế chăng nữa thì cũng chẳng vì vậy mà tôi đánh giá thấp đi công lao của Quang Trung đối với dân tộc.

            Tôi chán ngấy cái thứ văn chương tô vẽ các nhân vật lịch sử đến bóng lộn , và thuờng kiểu tô vẽ ấy dễ bị một số người đương quyền nào đó lợi dụng để tạo ra trong công chúng cái tâm lý sùng mộ họ một cách mù quáng khiến không ai dám đụng đến cả cái lông chân họ .

           Tôi không khỏi nhớ lại hồi còn học lớp sáu , đã học thuộc lòng trong chương trình giảng văn những câu thơ này :

                       Yêu biết mấy nghe con tập nói

                       Tiếng đầu lòng con gọi Xtalin

            Thế đấy , tôi đã nhớ lại hai câu thơ này khi nghe tin hội nghị lần thứ 19
Đảng cộng sản Liên Xô quyết định dựng đài tưởng niệm những nạn nhân bị Xtalin và những người thân cận ông ta sát hại , mà thấy càng cần phải suy ngẫm kỹ hơn về sứ mệnh của văn chương .

            Nhiều ý kiến trong ban chấp hành Hội Nhà văn cũng phê phán gay gắt “Phẩm tiết” về sự ẩn ý .” Có ẩn ý về mối quan hệ không thể hoà hợp giữa người cầm quyền ( dù tiến bộ hay phản động ) với cái đẹp nghệ thuật “ .Tác phẩm văn học bao giờ cũng có tính khái quát và đương nhiên là có tính đa nghĩa , điều đó không cần phải bàn cãi . Tôi cảm nhận một trong những ý nghĩa của Phẩm tiết như sau : không thể tiếp cận cái đẹp từ góc độ quyền uy . Và đó là hình phạt đời đời cho những kẻ nếu chỉ biết có quyền uy , họ sẽ không bao giờ được biết thế nào là tình yêu , là cái đẹp . Tôi thích cái ẩn ý này lắm . Còn về cái ẩn ý bôi nhọ những ai đó , thì tôi không cần để ý , vì nó chẳng dính gì tới văn chương . Cẩn thận đến như ông Lỗ Tấn đặt tên nhân vật bằng hai chữ AQ mà cũng còn vô khối người trách cứ ông ám chỉ họ nữa là … Cũng đừng nên bịa đặt ra và gán cái ẩn ý này cho báo Văn Nghệ – bởi nếu cứ theo lôgíc ấy thì ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam phải cung cấp cho tổng biên tập tất cả các báo , đài , nhà xuất bản một danh sách kèm theo lý lịch các nhân vật cần phải coi là kỵ huý để gạt mọi sự ám chỉ khi duỵêt bài .

            Tại sao lại có sự đối nghịch giữa một bên là đông đảo bạn đọc và giới báo chí với một bên là ban chấp hành Hội Nhà văn trong sự đánh giá báo Văn Nghệ ? Mọi người thì ngạc nhiên nhưng tất ca các nhà văn có lương tri bình thường , có lòng trung thực đã từng tham dự đại hội  lần thứ ba Hội Nha văn (1983) thì không lấy gì làm lạ . Ban chấp hành ấy chính là sản phẩm của một thời ngự trị chủ nghĩa giáo điều trong lý luận , thói hành chính mệnh lệnh trong lãnh đạo quản lý , kể cả lãnh đạo quản lý văn hoá văn nghệ , và không có dân chủ thậm chí ngay cả trong học thuật , mà điển hình là vụ phê phán bài Về một đặc điểm của văn học ta của Hoàng Ngọc Hiến và Đề dẫn của Đảng Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam . Ban chấp hành ấy chính là sản phẩm của một đại hội không có dân chủ – Đại hội Hội Nhà văn lần thứ ba .( Xin sẽ có bài riêng thuật lại Đại hội này – thiết nghĩ đây cũng là việc rất cần thiết trước khi các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam bước vào đại hội lần thứ tư của Hội mình ) Bản tin chi tiết của ban thư ký cho biết hội nghị ban  chấp hành diễn ra “thật sự dân chủ “. Ở đây lại thêm một bài học về dân chủ . Thứ “dân chủ “ trong một tổ chức đẻ ra từ một cơ chế không có dân chủ liệu có giá trị gì chăng ?

            Mọi người không thể không chú ý đến câu này trong nghị quyết của ban chấp hành : “giao cho ban thư ký uốn nắn chấn chỉnh tuần báo Văn Nghệ về nội dung và tổ chức “

 ( tôi gạch dưới ) . Đây chính là cái đích mà bản án nhằm vào . Theo một nhà văn uỷ viên ban chấp hành mới cho tôi biết thì hạ tuần tháng 9 vừa qua , 8 trong số 9 uỷ viên ban thư ký đã biểu quyết cách chức tổng biên tập báo Văn nghệ – nhà văn Nguyên Ngọc . Tiện thể nói luôn , trong vụ Đề dẫn trước kia người ta cũng đã từng ráo riết đòi Nguyên Ngọc từ chức bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà Văn Việt Nam .

            Nhân đây tôi muốn lưu ý công luận và lưu ý các đồng chí có trách nhiệm ở cấp cao một điều này : sự có mặt của đồng chí Đào Duy Tùng , bí thư trung ương Đảng trong hội nghị ban chấp hành Hội Nhà văn và việc Báo Nhân Dân đưa tin hội nghị này với nghị quyết của nó về báo Văn Nghệ ở một vị trí rất quan trọng của báo Đảng (trong khi tin về cuộc hội thảo do Ban Văn hoá Văn nghệ trung ương tổ chức , tại đó đa số những người tham dự đã biểu dương báo Văn Nghệ , thì lại đưa ở một góc nhỏ trang tư ; rất vắn tắt ) là những dữ kiện khách quan không khỏi gây cho tôi sự hiểu ngầm ( và tôi hy vọng chỉ là hiểu nhầm ) rằng việc phê phán báo Văn Nghệ để đi tới việc cách chức tổng biên tập Nguyên Ngọc là thể hiện sự chỉ đạo của Ban bí thư . Tự nhiên nẩy sinh câu hỏi : sau tổng biên tập báo Văn Nghệ , đến lượt tổng biên tập báo nào trong số những tờ báo tích cực đổi mới ? Ai cũng biết trong tình hình hiện nay khi chưa có luật báo chí , một tờ báo có đổi mới được hay không thì vai trò của người tổng biên tập quan trọng thế nào . Và khi đội ngũ tổng biên tập là những người nhất nhất tuân thủ các lệnh mịêng trái với các chủ trương công khai thì mọi văn bản về đổi mới báo chí sẽ bị vô hiệu hoá . Nếu sự thể diễn ra như vậy thì nguy hại cho sự nghiệp đổi mới biết chừng nào . Nhân dân vốn đang đầy băn khoăn về “ công tác tổ chức và cán bộ – nguyên nhân của nguyên nhân “ chưa có chuyển biến bao nhiêu , sẽ lại càng giảm sút lòng tin hơn nữa .

            Nhưng những suy nghĩ vừa rồi của tôi chỉ là bắt nguồn từ sự hiểu nhầm mà thôi – tôi tin thế . Nghị quyết của ban chấp hành Hội Nhà văn về báo Văn Nghệ là hoàn toàn thuộc về trách nhiệm cua ban chấp hành , không thể dựa dẫm vào sự có mặt của một đồng chí cấp trên hoặc một sự “ gợi ý “ nào cả . Với nghị quyết này , chính ban chấp hành và đặc biệt làban thư ký đã không thể giấu diếm được cái thực tâm không muốn đổi mới , tự bộc lộ là một trở lực của đổi mới .

            Tôi đề nghị báo Văn Nghệ đăng bài này của tôi ,và cảm ơn tờ báo nào giúp tôi công bố . Nếu có ai phê phán thì hãy phê phán tôi , đừng phê phán tờ báo.

 

________________________

 * Bài đăng trên tạp NHA TRANG số 19 - 1988

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                             

 

QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HOÁ

VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ VĂN*

 

 

           

            Để chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc công khai của Đảng , trước hết tôi yêu cầu các cơ quan ngôn luận của hội đăng tải đầy đủ ,và tha thiết mong các cơ quan truyền thông đại chúng công bố giúp tất cả các tham luận tại đại hội .

            Tôi nghĩ rằng đại hội này có tầm quan trọng không chỉ đối với bản thân Hội , đối với sự nghiệp văn học, mà cả đối với toàn xã hội . Tầm quan trọng ấy trước hết được xác định ở chỗ đại hội phải là và nhất thiết phải là một sinh hoạt góp phần đáng kể thúc đẩy mạnh mẽ quá trình dân chủ hoá xã hội , trên cơ sở đó mà dân chủ hoá đời sống văn học , đưa sự nghiệp văn học và công tác xây dựng Hội tiếp tục phát triển với một chất lượng mới . Chắc chắn là nhân dân sẽ qua đại hội này để xem xét tư cách các nhà văn và hội nhà văn chúng ta .

 

                                                                  I

 

            Với trách nhiệm công dân của một nhà văn , tôi xin phát biểu mấy ý kiến về một số vấn đề mà tôi cho là hệ trọng của đất nước hiện nay .

            Trong hành trình mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước , nhân dân Việt Nam ta đã tự khẳng định là một nhân dân tuyệt vời về lòng dũng cảm , đức hy sinh , về sự cần cù , kiên gan bền chí có lẽ đến thánh thần cũng phải bái phục . Đó cũng là một nhân dân không thua kém ai về sự thông minh tài trí . Đất nước ta , tài nguyên chưa dám gọi là giàu nhưng cũng không đến nỗi nghèo . Một nhân dân như thế , một đất nước như thế , không thể không đủ tài sức tự tạo cho mình một cuộc sống xứng đáng ,sau bao nhiêu xương máu , mồ hôi, nước mắt đã đổ ra thấm đẫm từng tấc, từng tấc đất .

            Nhưng đã nhiều năm qua,  tôi thấy – và hẳn nhiều đồng nghiệp của tôi cũng thấy – hiện lên trước mắt mình hàng ngày một bức tranh xã hội luôn luôn làm nhức nhối tâm can . Ba lực lượng trụ cột làm nên của cải vật chất và tinh thần cho xã hội,công nhân,nông dân , trí thức thì lại phải chịu một cuộc sống khốn đốn kéo dài . Vậy những thành phần xã hội nào được hưởng một đời sống dễ chịu ? Đó là một thiểu số những kẻ lấy địa vị và chủ nghĩa thăng quan phát tài làm  lẽ sống và những kẻ cơ hội luôn uốn lưỡi trở cờ để kiếm chác . Liên kết rất chặt với hai loại người trên là đội quân thường trực những kẻ làm ăn bất chính cực kỳ tháo vát trong việc khai thác triệt để những khe hở đầy rẫy của một cơ chế phi tự nhiên ta vẫn gọi là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp .

            Cơ chế đó nảy sinh trên mảnh đất của sự ấu trĩ , có tác dụng nhất thời trong hoàn cảnh chiến tranh , nhưng một thời gian dài đã bị ngộ nhận như một tất yếu bền vững không gì thay thế được và không được phép phê phán . Sự tồn tại dai dẳng của cơ chế đó đã gây biết bao tai hoạ cho đất nước mà tai hoạ lớn nhất , là nó đã tạo ra một hệ thống giá trị giả , và nguy hiểm hơn ,hệ thống giá trị giả này lại luôn luôn được xác lập ở vị trí chính thống .

            Trong kinh tế là giá giả , lương giả , lãi giả . Trong chính trị là tình trạng dân chủ hình thức . Trong tư tưởng là tình trạng cấp phát các giáo điều từ trên xuống không được phép tranh cãi và bị biến thành các tín điều không thể hoài nghi . Quan hệ phổ biến là quan hệ ban phát xin xỏ và móc ngoặc , là chỉ huy và phục tùng – lúc đầu là phục tùng chân thành , về sau chủ yếu chỉ còn là phục tùng ngoài mặt . Hệ thống giá trị giả đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế , xã hội , đặc biệt nghiêm trọng là nó đã làm ô nhiễm nặng nề đời sống đạo đức , tinh thần mà hậu quả chưa biết đến khi nào mới khắc phục nổi, vì nó đã ngấm vào một bộ phận thế hệ trẻ .

            Cái cơ chế đó hàng ngày hàng giờ làm mòn mỏi ,triệt tiêu mọi ý kiến , mọi sáng kiến , mọi sự năng động cá nhân –cái động lực mạnh mẽ khôn lường mà  Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã nêu thành công thức nổi tiếng “ Sự phát triển tự do của mỗi cánhân là điều kiện phát triển tự do cho tất cả mọi người “ . Đồng thời cái cơ chế đó cũng hàng ngày hàng giờ sản sinh và vỗ béo bằng đặc quyền đặc lợi dưới mọi hình thái , một tầng lớp quan liêu kém tài kém đức mà đặc trưng nổi bật nhất la bất lực , ăn bám và đạo đức giả , nói một đằng làm một nẻo , nguỵ biện rất tài tình để che giấu chân dung thực của mình . Trong lòng chế độ sở hữu toàn dân , sở hữu tập thể , xuất hiện một dạng chiếm hữu mới rất tinh

vi : chiếm hữu chức quyền . Có chức quyền là có tất cả , mà lại rất an toàn vì núp dưới cái bình phong vững chắc và cao sang là sở hữu toàn dân ,sở hữu tập thể . Chức vụ – từ một khái niệm cao quý thể hiện trách nhiệm và quyền hạn mà nhân dân trao cho những người đầy tớ trung thành của mình đã bị biến dạng thành một chiếc ghế bên ngoài được sơn phết chữ “ đầy tớ “ nhưng thực chất chỉ là bậc thang để thăng quan phát tài . Hình ảnhNgười đàn bà quy”** - người làm chủ quỳ trước kẻ đầy tớ của mình để dâng đơn khiếu nại – là bức tượng đài sống vừa bi thảm vừa hài hước mà chính cuộc sống nghiệt ngã đã tạo nên , như một sự mỉa mai của lịch sử đối với hệ thống gía trị giả đã tồn tại và hiện vẫn chưa bị xoá bỏ tận gốc . 

            Cái cơ chế phi tự nhiên đó càng vận hành càng làm cho quá trình tha hoá con người trở nên khốc liệt . Một số trở thành những con người nhiễm nặng tâm lý và thói quen thụ động thờ ơ trước công việc , trước số phận của đồng loại . Tâm lý này , thói quen này là mảnh đất tốt nuôi dưỡng và đẩy nhanh quá trình tha hoá của thiểu số quan liêu – họ trở thành những “ thủ lĩnh “ những “ lãnh chúa “ của những lãnh địa khép kín (cơ quan, đơn vị, ngành , địa phương ) , trong đó các mối quan hệ bè cánh , gia đình, tộc họ , đồng hương lấn át thậm chí thay thế quan hệ cách mạng cùng các quan hệ đạo lý thông thường , họ tiến hành những thủ đoạn độc địa vừa trắng trợn vừa xảo quyệt để giữ ghế giành ghế cho mình và đệ tử của mình .

            Điều hết sức nguy hiểm là khi tiến hành những việc đó họ đều nhân danh Đảng , nhân danh chủ nghĩa xã hội và trong khá nhiều trường hợp họ đã thành công , những người trung thực vạch mặt họ lại bị họ quy kết là chống Đảng , còn họ vẫn đường đường được coi là những cán bộ cốt cán của Đảng .

            Đảng ta có công lớn với nhân dân . Biết bao đảng viên của Đảng , từ đảng viên thường đến cán bộ lãnh đạo đã nêu những tấm gương quên mình còn sáng mãi .Nhân dân ta vô cùng tin yêu Đảng , niềm tin hồn hậu và trong sáng . Biết bao người dân thường đã hy sinh cả tính mệnh mình , con cái mình cho đảng viên của Đảng được sống mà làm cách mạng , mối quan hệ thiêng liêng Đảng với dân , dân với Đảng quyện chặt bằng máu . “Ơn Đảng , ơn chính phủ “ đã từng là câu nói đầu miệng rất chân thành một thời của mỗi người dân . Đây là một tình cảm quý báu nhưng về mặt nhận thức lại là một sự ấu trĩ lệch lạc tai hại . Người dân đã quên mất công lao vĩ đại của chính mình tạo nên thành quả cách mạng . Đảng tự nhiên được thần thánh hoá thành một cái gì ở trên cao ban phát ân huệ xuống , và dần dần Đảng được thần quyền hoá . Công tác tuyên truyền giản đơn một chiều đã củng cố ngày một thêm vững chắc tâm lý này trong quần chúng . Những phần tử quan liêu mau chóng nhận ra sự “ tiện lợi “ của trạng thái đó đối với việc duy trì lâu dài quyền thế của họ . Họ ngấm ngầm tạo ra và truyền bá quan niệm đồng nhất cán bộ lãnh đạo của Đảng với Đảng , đánh tráo uy tín của Đảng vào uy tín cá nhân . Những thứ luật bất thành văn trái với kỷ cương của Đảng và pháp luật của nhà nước từ từ xuất hiện một cách vô hình nhưng hiệu lực thực tế ngày càng bành trướng rồi trở thành một tồn tại mặc nhiên , thôn tính một cách êm ái ý thức dân chủ trong mỗi đảng viên , mỗi công dân . Xuất hiện những nhân vật tự cho mình được độc quyền chân lý và độc quyền ban phát chân lý , khôn khéo tự tạo dựng và khuyến khích bọn xu nịnh tạo dựng họ thành những “ đấng” không ai dám đụng tới lông chân , đứng ngoài và đứng trên kỷ luật Đảng và pháp luật nhà nước , chi phối cả kỷ cương và pháp luật theo ý riêng .

            Kỷ cương của Đảng ,pháp luật của nhà nước bị vi phạm , bị chà đạp nghiêm trọng , nhiều trường hợp xuất phát ngay từ các cơ quan có trách nhiệm giữ gìn kỷ cương , luật pháp mà không bị xử lý hoặc xử lý không nghiêm.Báo chí chỉ mới nêu lên được một phần nhỏ sự thật ,nhưng ngay với một phần nhỏ đã nêu lên ấy phần lớn cũng đụng đầu vào một sự im lặng ù lì không thể chấp nhận được .

            Mọi người đều biết , trong Đảng phần đông đảng viên đều tốt ,ngoài xã hội người tốt nhiều hơn kẻ xấu ,vậy mà tiêu cực vẫn ngày càng phát triển , tình hình kinh tế xã hội nhiều mặt tiếp tục xấu đi .

            Do đâu ?

            Chính là do tầng lớp quan liêu bảo thủ vẫn tồn tại khá yên ổn trong tổ chức Đảng và bộ máy nhànước . Đây chính là bộ phận mất lòng tin tệ hại nhất trong xã hội ta , họ chẳng còn một chút tin tưởng nào vào Đảng vào chủ nghĩa Mác Lê nin , vào chủ nghĩa xã hội , họ chỉ núp vào các danh hiệu ấy để dùng làm tấm bình phong che đậy những lợi ích vị kỷ mà họ sờ mó được và nắm lấy bằng chức quyền . Chính họ trên thực tế đang phủ định các giá trị quý báu của quá khứ , làm giảm uy tín và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng , làm méo mó hình ảnh của chủ nghĩa xã hội , làm suy yếu đất nước và do đó , khuyến khích những mưu toan phá hoại vốn có của kẻ thù bên ngoài. Họ là trở lực chính cản bước đổi mới , cản bước công khai và dân chủ , đặc biệt là gây lùng nhùng ách tắc cho việc đổi mới tổ chức , đổi mới cán bộ . Nhìn vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản ly hiện nay từ cao xuống thấp ,tôi xin nói thật là tôi vẫn không thể gạt bỏ được câu hỏi lớn này : trong số đó , có được bao nhiêu phần trăm thật sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân , có đủ năng lực nắm và vận dụng chủ nghĩa Mác Lê nin , am hiểu lĩnh vực mà mình phụ trách ? Khó mà có được đáp số chính xác , bởi vì có những người đã được đưa vào cương vị hiện nay chủ yếu là do sự sắp xếp chủ quan được áp đặt khéo léo bằng những cuộc bầu cử dân chủ hình thức , khi nguyên tắc của tính công khai chưa được thực hiện đầy đủ , ảnh hưởng của những thứ luật bất thành văn , luật của những lệnh miệng , những cú điện thoại , những cái lừ mắt vẫn còn mạnh .

            Tôi nghĩ rằng cuộc đấu tranh cho đổi mới sẽ còn diễn ra quyết liệt và phức tạp chính là ở khâu đổi mới tổ chức và cán bộ , mà kết quả có thể diễn ra ở ba cấp độ :

-         Đổi mà không mới , mới bề ngoài .

-         Đổi mà mới cũ đan cài nhập nhằng .

-         Đổi mới thật sự .

            Kết quả ra sao sẽ tuỳ thuộc ở chỗ quần chúng nhân dân, đi đầu là các đảng viên gương mẫu dưới sự lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ của Đảng có thực sự phát huy được ý thức về quyền dân chủ và tự mình nắm lấy các quyền ấy hay không , có xây dựng và vận hành một thể chế bầu cử thực sự dân chủ trong đảng và trên toàn xã hội được hay không , có vạch mặt và loại trừ được tầng lớp quan liêu và chủ nghĩa quan liêu hay không ?

            (Cần phải nói thêm cho khỏi hiểu lầm , dân chủ ma tôi nói đây tất chỉ có thể là dân chủ xã hội chủ nghĩa – một nền dân chủ kế thừa trọn vẹn mọi tinh hoa trong thành quả dân chủ mà loài người đã trả giá bằng máu mới có được cho đến nay , và bổ sung vào đó những thành quả ưu việt hơn mà chỉ có CNXH mới đem lại cho loài người .)

 

                                                               II

           

         Đương nhiên các nhà văn chúng ta không thể đứng ngoài mà phải tham gia hết mình vào cuộc đấu tranh đó , bằng ngòi bút và bằng những hoạt động công dân , bởi đó chính là vấn đề hệ trọng của đời sống xã hội , của số phận con người ,cũng là của văn chương , của phẩm chất nhà văn .Phẩm chất của các nhà văn chúng ta đã là và sẽ luôn luôn là phẩm chất của người nghệ sĩ – chiến sĩ . Trong những năm tháng thử  thách cực kỳ gian nan của vận mệnh dân tộc , biết bao anh chị em chúng ta , thế hệ sau nối thế hệ trước cầm chắc cây bút và có người khi cần cũng cầm súng , đã có mặt với nhân dân ở những mặt trận khốc liệt nhất , từ rừng núi , đồng bằng đến vùng đô thị địch chiếm . Bao anh chị em đã chịu thương tật , bệnh hoạn , tù đầy và nhiều người đã anh dũng hy sinh .

            Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng , những ai đã thành tâm can đảm hiến dâng cả ngòi bút và sinh mệnh mình cho độc lập dân tộc , tất sẽ chẳng những giữ vẹn mà còn nhân lên gấp bội khí phách ấy , bản lĩnh ấy trong cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ ,công bằng và lẽ phải . Bởi vì sứ mệnh của một nhà văn chân chính không có gì khác hơn là phát hiện , khẳng định và bảo vệ chân lý đến cùng , là phải giữ cho ngọn đèn lương tâm trong mỗi con người và trước hết trong chính bản thân mình không những không bị dập tắt mà càng chói sáng hơn trong mọi cơn cuồng phong ghê gớm nhất của thế sự  cũng như trong làn gió ngầm hiu hiu của đời sống thường ngày .

            Mỗi chúng ta đều ghi lòng tạc dạ những dòng thơ tâm huyết của Bác Hồ kính yêu :

                        Trên đời nghìn vạn điều cay đắng

                        Cay đắng chi bằng mất tự do ?

                        Mỗi vịêc mỗi lời không tự chủ

                        Để cho người dắt tựa trâu bò !

            Điều cay đắng hơn đối với không ít nhà văn chúng ta ( trong đó có tôi ) là có khi mất tự do mà không tự biết , bởi sự éo le của lịch sử đã nhào nhuyễn nạn bao cấp về tư tưởng vào trong uy tín lớn của Đảng  mà nhà văn hết lòng tin yêu .Trong một số trường hợp , nhà văn đã rơi vào bi kịch của người nhiệt thành truyền bá lòng nhiệt thành làm đúng những điều sai , góp phần làm cho người đọc của mình trở thành những người nhiệt thành làm đúng những điều sai.

            Chúng ta đã viết “theo mệnh lệnh của trái tim mình “,và mặc dù” trái tim ta thuộc về Đảng và nhân dân mà ta hết lòng tin yêu ",như M.Sô-lô-khốp nói,nhưng không vì vậy mà chúng ta có thể thoát khỏi cảm thức trách nhiệm cá nhân , thậm chí là cảm thức tội lỗi cá nhân trước bao nỗi oan khiên của con người , trước cái xấu , cái ác đang còn đầy rẫy , mà đặc trưng nguy hiểm của nó là khoác áo cái thiện cực kỳ sành điệu để lộng hành . Borix Paxternak đã báo động từ khá lâu :” Tai hoạ chủ yếu , cội nguồn của cái ác trong mai sau chính là do mất lòng tin vào giá trị của ý kiến riêng “ .

            Tôi nghĩ rằng ở ta không thiếu những nhà văn sớm ý thức được điều đó ,nhưng họ đã không lên tiếng ,người thì không thể lên tiếng vì bị thói độc đoán chuyên quyền từ phía người lãnh đạo quản lý bịt miệng , người thì không dám lên tiếng vì tự ràng buộc vào chiếc ghế quan chức cùng vô số ràng buộc và cám dỗ khác . Nhưng điều đáng mừng là chúng ta cũng không thiếu những nhà văn trước sau vẫn giữ được bản lĩnh suy nghĩ độc lập của mình trong những hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã . Tưởng cũng đáng để nhắc lại ở đây mấy câu của nhà thơ Hữu Loan mà riêng tôi rất quý trọng và cảm phục :

            Tôi vẫn là tôi

                                    cây gỗ vuông chành chạnh 

                                                                     suốt đời

                        Làm thất bại

                                                mọi âm mưu

                                                                      đẽo tròn

                        Để tùy tiện muốn lăn long lóc

                                                                           thế nào

                                                                                        thì long lóc

                        Chân Tính đấy

                                                  hỡi

                                                        Rìu Bào Phó Mộc !

            Nghị quyết 05 của Bộ chính trị đã khẳng định tự do sáng tác là một quan điểm cơ bản ,một chính sách lớn của Đảng .

            Đảng đã cởi trói , điều đó thật đáng mừng , nhưng cái quyết định là nhà văn phải tự cởi trói , phải tự mình thoát khỏi nỗi sợ một cái gì đó lơ lửng trên đầu mà thế lực quan liêu đang cố duy trì một cách tinh vi , phải tự mình làm chủ tự do của mình . Đương nhiên tự do sáng tác luôn gắn liền với trách nhiệm – một thứ trách nhiệm không phải được áp từ trên xuống hay truyền từ ngoài vào mà là một nhu cầu tự thân của lương tâm nhà văn trước nhân dân mình , dân tộc mình cùng toàn thể nhân loại . Tự do thiêng liêng và trách nhiệm thiêng liêng , hai thứ quyện chặt bằng máu nơi ngọn bút , tự do đến từng chữ và trách nhiệm đến từng chữ . Nhà văn chỉ tuân phục những gì mà trí tuệ và lương tâm mình mách bảo đó là chân lý .

            Tự do sáng tác sẽ là một khẩu hiệu rỗng tuếch nếu nó được đưa ra giữa một xã hội trong đó các quyền tự do ngôn luận , tự do báo chí , xuất bản , tự do lập hội đã được hiến pháp thừa nhận từ lâu không được bảo đảm bằng pháp luật .Dựa trên một nền luật pháp tiến bộ , các quyền nói trên ,nhất là qưyền tự do báo chí , tự do xuất bản sẽ bảo đảm cho quyền tự do sáng tác được vận hành trong thực tế .Tất nhiên khi có tự do báo chí , tự do xuất bản , sẽ lập tức xuất hiện trên thị trường sách báo vô số những tác phẩm dù không phạm luật nhưng tầm thường , nhạt nhẽo . Không sao , những tài năng đích thực sẽ phải thừa bản lĩnh để chấp nhận sự thách thức thường xuyên ồ ạt của cái biển sách báo tầm thường ấy và chính trong cuộc thách thức này mà các tài năng mới càng tự khẳng định mạnh mẽ . Đồng thời xã hội ta phải xây dựng được đội ngũ phê bình chân chính và một nền giáo dục tiến bộ để hướng dẫn và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ hợp quy luật , có chính sách tác quyền , chính sách thuế cùng các chính sách đúng đắn khác của Nhà nước để hạn chế cái tầm thường , khuyến khích cái đích thực, hỗ trợ vào đó là sự bảo trợ của những tổ chức xã hội và tư nhân nâng đỡ tài năng .

            Để cho các quyền tự do sáng tác, tự do báo chí và xuất bản cùng các quyền khác trở thành hiện thực , không thể chỉ ngồi chờ ai đó ban phát cho , mà phải đấu tranh để xóa bỏ những quy định lỗi thời trái hiến pháp , xây dựng và xác lập những thể chế phù hợp với hiến pháp , đồng thời sửa đổi cả những điểm lỗi thời của hiến pháp.

            Hãy nhìn vào chế độ nhuận bút trước đây không lâu ( mỗi năm viết một cuốn trung bình dễ in , thu nhập cao gấp nhiều lần năm năm dày công viết một cuốn xuất sắc ) , chế độ lương hiện hành ( so sánh giữa lương một bác sĩ , một diễn viên với lương một lái xe mới ra trường ) , chế độ thưởng sáng kiến ( làm lợi hàng triệu đồng được thưởng vài ngàn ) , ta thấy trí thức nói chung và văn nghệ sĩ nói riêng cùng lao động chất xám của họ bị coi rẻ đến thế nào , so sánh với vật giá , với thu nhập của lao động giản đơn càng thấy chưa bao giờ bị coi rẻ như bây giờ .   Nghị quyết của Đảng đã nhấn mạnh cần phải có chính sách thoả đáng , nhưng không hiểu sao sự thể vẫn hầu như chưa nhúc nhích .

            Tôi đề nghị cần phải đẩy nhanh tốc độ để mau ra đời những chính sách , chế độ thoả đáng , những luật pháp nhằm đảm bảo các quyền mà hiến pháp đã thừa nhận đối với lãnh vực sản xuất tinh thần . Trách nhiệm này trước hết thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước , các tổ chức dân cử , nhưng Hội Nhà văn cần chủ động tập hợp trí tuệ của anh chị em nhà văn trong và ngoài hội tham gia làm dự luật .Dự thảo  luật phải được công bố rộng rãi để nhân dân góp ý kiến trước khi trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định . Và trong qúa trình thực hiện phải được sửa đổi , bổ sung kịp thời những điểm cần thiết .

           

                                                                 III

 

            Đối với nhà văn chỉ có hai việc quan trọng là viết cho được và công bố cho được tác phẩm của mình . Họ thích có hội là do thích có tri âm tri kỷ . Cái tình tri âm tri kỷ ,tình nghề nghiệp , chia sẻ với nhau những cảm nghĩ mới , có con mắt xanh với những năng lực tiềm ẩn của nhau , cảm thông và chăm sóc nhau từ những vật vã của quá trình thai nghén tác phẩm đến khi hoàn thành , giúp nhau để công bố tác phẩm , cưu mang nhau lúc cơ nhỡ …tất cả những điều đó là bà đỡ mát tay cho hoạt động sáng tạo .Trong lịch sử , hẳn rằng các nhóm, các hội nghệ thuật ra đời đều xuất phát từ nhu cầu ấy , tinh thần ấy .

            Nhưng hội của chúng ta thì khác. Mặc dù trong buổi ban đầu hội cũng còn mang chút ít tinh thần ấy , nhưng vốn là một bộ phận cấu thành của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp , tổ chức hội ngày càng mất dần tính chất một hội quần chúng , một tổ chức xã hội nghề nghiệp , mà ngày càng đậm đặc tính chất nhà nước . Một số nhà văn tài năng đã trở thành những quan chức văn học, ở người này thì khát vọng sáng tạo bị tham vọng thăng quan phát tài lấn át , ở người khác thì cố dung hoà một cách vô vọng sự thoả mãn cả hai tham vọng ấy. Những chức trách trong hội thường đều có gắn với đặc quyền đặc lợi , đã trở thành mục tiêu để giành giật , được che giấu dưới tấm màn hào nhoáng . Các cuộc đấu tranh về quan điểm vốn dĩ bình thường và bổ ích giữa những người thành tâm tìm kiếm chân lý đã bị một số ít phần tử cơ hội dùng thủ đoạn chụp mũ vu cáo chính trị ,lợi dụng cả cơ quan báo chí phát thanh của Đảng nống lên thành những vấn đề có tính chất chính trị , gấy mất đoàn kết , gây lẫn lộn địch ta , dễ dẫn đến chỗ ta đánh vào ta , rất nguy hiểm . Thử hỏi kẻ địch còn mong muốn gì hơn thế ? Tình trạng nguy hại ấy đã từng lặp đi lặp lại , và đáng tiếc thay , giữa tiến trình đổi mới , nó  lại lặp đi lặp lại trước và trong đại hội này .

            Sự đổi mới của chúng ta có lẽ trước hết là ở chỗ phải đẩy lùi và xóa bỏ triệt để tình trạng độc hại đó .

            Tôi tha thiết đề nghị , từ đại hội này, chúng ta dứt khoát thay thế khẩu hiệu “ văn nghệ phục vụ chính trị “ bằng khẩu hiệu “ văn nghệ phục vụ tổ quốc , phục vụ nhân dân ,  từ con người và vì con người

            Đồng thời , tôi đề nghị hội ta phải tích cực chủ động tham gia đẩy nhanh việc thể chế hoá các quan điểm cơ bản trong nghị quyết 05 của Bộ chính trị nhằm giải phóng tiềm năng sáng tạo của văn nghệ sĩ .

            Tất cả những gì đã công bố chưa phải là tất cả những gì chúng ta đã viết được , và tất cả những gì chúng ta đa viết được trước đây cũng chưa bộc lộ đầy đủ tiềm năng của chúng ta .

            Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng , bất chấp mọi trở lực , một thời kỳ văn học thực sự lớn đã được báo hiệu , và đang đến, bởi vì tuyệt đại đa số chúng ta, thuộc mọi thế hệ , có đủ tài năng và tâm huyết để tạo nên những tác phẩm làm giàu thêm các giá trị văn hoá không những chỉ của dân tộc ta mà của cả loài người .

 

             Hà Nội , 27-10-1989

 

__________________________       

                *Tham luận  tại đại hội  lần thứ tư Hội nhà văn.Đăng ký với chủ tịch đoàn nhưng không được sắp xếp cho lên diễn đàn,gửi báo Văn Nghệ nhưng báo không đăng,sau đăng trên tạp chí Đất Quảng tháng 11.1989)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƯ  NGỎ

 

            Kính gửi: -Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

      -Ban chấp hành  Trung ương Đảng CSVN

                              -Mặt trận    TQVN và các đoàn thể trong Mặt trận 

            Đồng kính gửi: - Các báo đài

                             - Ông Hoàng Minh Chính và các ông bà bị nạn trong

                               vụ án “xét lại hiện đại” cùng thân nhân                    

                           - Bạn hữu trong  và ngoài giới cầm bút.                   

 

            Tôi đã đọc đơn kiện của ông Hoàng Minh Chính gửi các cơ quan hữu trách và các bạn hữu, yêu cầu đưa ra ánh sáng vụ án bí mật mà ông Lê Đức Thọ ủy viên Bộ Chính trị, trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đạo diễn và quyết án, để kéo dài mấy chục năm trời đầy đọa trong bóng tối ông Hoàng Minh Chính cùng hàng loạt trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ trung cao cấp  của Đảng, có cả tướng lĩnh và Ủy viên Trung ương.

            Chừng nào chưa có một tòa án  vô tư, độc lập, không đảng phái với chứng lý rõ ràng, công khai bác bỏ được sự việc ông Hoàng Minh Chính nêu ra, thì chừng đó tôi còn tin việc đó là có thật, một sự thật phi lý, phi pháp, vô nhân đạo  mà bất cứ ai còn chút lương tri cũng không thể làm ngơ.

            Ông Hoàng Minh Chính bị bắt ngày 27-7-1967.

            Chính ngày ấy tôi đang trên đường hành quân vượt Trường Sơn, đem trái tim và ngọn bút đầy hăng say tin tưởng vào trực tiếp tham gia kháng chiến ở miền Nam, chống Mỹ cứu nước. Sau đó không lâu, vợ tôi , nhà văn Dương thị Xuân Quý cũng để  con gái nhỏ 16 tháng tuổi lại hậu phương lên đường vào Nam chiến đấu và đã hy sinh. Tôi không thể ngờ khi gia đình chúng tôi cũng như mọi gia đình Việt Nam yêu nước lao lên phía trước sẵn sàng hiến dâng tính mạng mình để giành độc lập cho Tổ quốc và Tự do cho mỗi con người, thì sau lưng chúng tôi, chính người lớn tiếng hô hào chúng tôi chiến đấu lại đưa bàn tay sắt tước đoạt tự do và hành hạ những người đồng chí-những chiến sĩ cách mạng, những trí thức văn nghệ sĩ yêu dân, yêu nước, yêu chân lý chỉ vì họ kiên định quan điểm xét lại hiện đại mà họ tin là đúng, trong khi người đàn áp họ đã quay ngoắt 180 độ về quan điểm.

            Chỉ có những thế lực phi nghĩa mới dùng bạo lực trong cuộc đấu tranh về quan điểm.

            Máu của gia đình tôi cùng hàng chục triệu gia đình Việt Nam đã đổ ra dứt khoát không phải để tạo dựng một bộ máy độc tài đảng trị-thực chất  chỉ là sự thống trị của từng cá nhân hoặc nhóm nhỏ ở mỗi cấp ủy núp dưới danh nghĩa Đảng dùng mọi thủ đoạn trắng trợn và tinh vi  loại bỏ dần đội ngũ trung kiên có đức có tài để thoán đoạt quyền bính và đục khoét, vơ vét. Hiện nay  các phần tử này đang hối hả vét gấp, bị nhân dân khinh bỉ, làm cho người tử tế còn lại trong Đảng mang tiếng lây, xấu hổ lây.

            Tình trạng vừa nêu trên đã khiến Đảng-vốn là một tổ chức chính trị tập hợp được khá đông đảo  những tinh hoa từ mọi giai tầng của dân tộc, được dân tin, dân yêu, dân theo, dân bảo vệ trong suốt quá trình nếm mật nằm gai giành độc lập-khi cầm quyền thoái hóa dần thành một thế lực đứng trên đầu dân, trên nhà nước, trên luật pháp, nuốt lời hứa với dân. Tất cả các quyền tự do của công dân được ghi trong hiến pháp từ năm 1946 đến nay vẫn chỉ có trên giấy, quyền con người bị vi phạm nghiêm trọng kéo dài mà vụ “xét lại hiện đại” là một bằng chứng điển hình.

            Đến cả di chúc của Chủ tịch Hồ Chí minh  người sáng lập Đảng, sáng lập nhà nước dân chủ cộng hòa cũng không được tôn trọng, nói gì đến các thứ quyền của người dân thường.

            Tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa.

            Tôi khẩn thiết đề nghị một số điều thuộc loại “Những việc cần làm ngay”:

1-Đáp ứng ngay 7 yêu cầu và kiến nghị của ông Hoàng Minh Chính.

2-In và phát hành rộng rãi đến từng người dân bản Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế mà nhà nước ta đã ký kết tuân thủ.

3-Đưa chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội trở về đúng vị trí một sự lựa chọn ý thức hệ riêng của Đảng chứ không áp đặt thành sự lựa chọn của cả dân tộc, lấy mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh, con người tự do và hạnh phúc, hòa nhập với  thế giới”, làm mục tiêu  chung, đoàn kết hòa giải hòa hợp mọi người Việt Nam yêu nước.

4-Bỏ điều 4 trong Hiến Pháp đồng thời ra một bộ luật trước mọi bộ luật là luật về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam, đảm bảo sự giám sát  của nhân dân  đối với Đảng, đảm bảo ngăn chặn tệ nạn lộng quyền nhân danh Đảng, loại trừ tình trạng Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên nhà nước.

5- Thực hiện một  cuộc sửa sai công khai triệt để có hệ thống, có bước đi thích hợp. Đối với tất cả những người bị bắt mà không xét xử, phải thi hành đúng các thủ tục tố tụng, nếu họ vô tội, phải công khai minh oan, xin lỗi, bồi thường mọi tổn thương về thân thể và danh dự.

7-Sửa luật bầu cử ứng cử hiện hành để đảm bảo quyền tự do ứng cử của mọi công dân không phải qua “hiệp thương” do Đảng sắp đặt thành một cuộc bầu cử trước bầu cử  như lâu nay mà người dân thường vẫn gọi là “Đảng chọn dân bầu” (thực chất cũng không phải là Đảng chọn mà chỉ do một số cá nhân hoặc nhóm quyền lực trong mỗi cấp ủy độc đoán quyết định việc lựa chọn này).

8-Không coi vấn đề đa nguyên đa đảng là một đề tài cấm kỵ-thực hiện một cuộc trao đổi ý kiến công khai, dân chủ, bình đẳng trong toàn dân Việt Nam (kể cả người Việt Nam ở nước ngoài) về vấn đề này để cùng tìm kiếm những bước đi thích hợp cho quá trình dân chủ hóa trong hòa bình, ổn định và phát triển.

            Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói từ lâu rằng: nước được độc lập mà dân không được tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì.

            Lấy lời ấy soi vào hiện tình đất nước, tôi thấy mình đang sống trong một nền độc lập không có ý nghĩa gì. Lương tâm tôi, xương máu của bao người đổ cho nền độc lập, nỗi oan ức của bao người chân chính bị đàn áp  trong thầm lặng đòi hỏi tôi viết những dòng này để góp một   hạt cát xây dựng một nền độc lập có ý nghĩa: ĐỘC LẬP cho DÂN TỘC  gắn chặt với TỰ DO cho MỖI CON NGƯỜI.       

 

            Kính thư                                              

                                                            Đà Lạt, ngày 3-10-1993

 

                                                                BÙI MINH QUỐC

           

 

MẤY KỶ NIỆM

LÀNG VĂN BỊ TRÓI

 

            Vào thượng tuần tháng 11 năm 1978, mấy anh em nhà văn chúng tôi (Thu Bồn, Nguyễn Chí Trung và tôi) đang theo một đơn vị thuộc Quân đoàn 4 tham gia chiến dịch bảo vệ biên giới tây nam, tình cờ được đọc trên báo Nhân Dân một tin ngắn đăng trang trọng ở góc đầu trang nhất: Ban bí thư trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng đoàn Hội nhà văn Vịêt Nam.  Trong Đảng đoàn, ngoài các nhà văn nhà thơ vốn là cán bộ lãnh đạo chủ chốt quen thuộc của Hội bấy lâu, còn có thêm các gương mặt mới: Nguyên Ngọc, Giang Nam, Nguyễn Khải.  Bí thư  Đảng đoàn là nhà văn Nguyên Ngọc.  Chúng tôi vui mừng bảo nhau: quyết định của Ban bí thư đã đáp ứng một yêu cầu khách quan của việc xây dựng Hội sau khi nước nhà thống nhất, tuy có hơi chậm.

            Từ những năm còn chiến tranh, nhiều anh chị em hoạt động văn nghệ ở Hà Nội lần lượt vào chiến trường Khu 5, mỗi khi ngồi với nhau, nói đến Hội nhà văn thường cứ gọi mỉa mai là Hội của mấy nhà văn và lại đọc cho nhau nghe một đoạn ca dao rất phổ biến cả trong và ngoài giới cầm bút:

                        Đảng đoàn là Đảng đoàn Thi

                        Không đi thực tế, chỉ đi nước ngoài

                        Đảng đoàn là Đảng đoàn Hoài

                        Chỉ đi nước ngoài thực tế không đi

                        Đảng đoàn là Đảng đoàn Thi…

            Tôi không biết mấy câu ca dao đời mới ấy có chứa đựng một hạt nhân hiện thực nào không, nhưng nghe mãi, trong lòng vừa thấy khó chịu vừa thấy phân vân.  Khó chịu vì nó làm tổn thương tình cảm của mình đối với các nhà văn đàn anh mà từ khi còn niên thiếu mình đã quý đã yêu qua tác phẩm.  Phân vân, vì nó không khỏi làm nẩy sinh mối nghi vấn về tư cách của những người lãnh đạo Hội.

            Đối với mấy nhà văn mới có mặt trong Đảng đoàn, tôi cảm thấy có gì đó gần gũi với thế hệ mình. Các anh thuộc lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp và tự khẳng định văn tài sau đó, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ lại là những người lăn lộn lâu dài ở những nơi ác liệt nhất, gian khổ nhất.  Nguyên Ngọc ở Khu 5, Giang Nam ở Khu 6 rồi Nam Bộ.  Nguyễn Khải tuy ít chịu khổ nguy hơn, chỉ đi từng chuyến thấp thoáng nhưng dù sao cũng đã có mặt ở Vĩnh Linh, Cồn Cỏ.  Có thể các anh chưa nhiều kinh nghịêm chính trường, chưa từng trải cung cách ứng xử giữa một thế thái nhân tình cực kỳ phức tạp, giữa một cơ chế vận hành không thuận chiều cho tự do sáng tác, nhưng chắc chắn đông đảo anh chị em hội viên đều có thể tin ở nhiệt tâm và bản lĩnh của các anh khi gánh vác công việc Hội.

            Tháng 6 năm 1979, sau một thời gian chuẩn bị, Đảng đoàn Hội nhà văn tổ chức một cuộc hội nghị gồm phần lớn các hội viên là đảng viên (có lẽ do khó khăn điều kiện ăn ở và các khó khăn khác nên không triệu tập được đầy đủ).  Tôi có dự hội nghị này.  Như lời công bố rất rõ của Đảng đoàn lúc khai mạc, đây là một hội nghị nội bộ Đảng trước khi tiến tới một hội nghị rộng rãi toàn thể hội viên, với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trước Nhân dân, cùng nhau đặt ra và bàn bạc những vấn đề cốt thiết nhất của sự nghiệp văn học trong giai đoạn mới.  Để gợi ý cho hội nghị thảo luận, Đảng đoàn đã thảo ra một bản Đề cương đề dẫn (thường gọi tắt là Đề dẫn), do nhà văn Nguyên Ngọc, bí thư  Đảng đoàn chấp bút và trình bày trước hội nghị.

            Theo tôi được biết, bản dự thảo Đề dẫn này do Nguyên Ngọc làm, có sự tham gia của người bạn thân Nguyên Ngọc là Nguyễn Chí Trung, và sự đóng góp ý kiến đầy trách nhiệm của các uỷ viên Đảng đoàn Chế Lan Viên, Nguyễn Khải.

            Nội dung chủ yếu của Đề dẫn tập trung vào mấy điểm cốt thiết với sự nghiệp văn học.

            Ơ phần nhìn lại và đánh giá tình hình văn học từ sau 1975 Đề dẫn biểu dương một số kết quả đáng khích lệ, đồng thời cũng lên tiếng báo động về một tình trạng trì trệ: cuộc sống thì ngày càng phức tạp mà văn chương thì ngày càng nhạt nhẽo, “Người viết vẫn cứ viết mà không thật tin ở chính điều mình viết ra”.

            Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng ấy?

            Đề dẫn vạch rõ, nguyên nhân ở phía người viết là sự bối rối giao động, còn nguyên nhân ở phía khác là cái không khí căng thẳng, lâu lâu lại thấy vang lên tiếng hô hoán dữ dằn rằng nào là có “tà khí”, nào là có “phản động”, nào là có “chống Đảng” trong văn học.

            Với một lòng nhiệt thành, một thái độ tự nghiêm khắc với mình và rất mực cung kính đối với Đảng, Đề dẫn viết:

            “Nhân đây chúng ta cũng muốn nói rõ: quả là trong thời gian này trong nhiều người chúng ta đã có bối rối, giao động, điều ấy đã hạn chế sức chiến đấu của văn học ta nhiều lắm.  Hôm nay chúng ta nghiêm khắc nhận rõ thiếu sót đó.  Song cũng cần khẳng định rằng: trong văn học ta, ngay ở thời gian này, không có cái gì có thể gọi là “một luồng tà khí”, “phản động”, “chống Đảng”… như có một số người đã ngộ nhận, ngày càng thêm rắc rối.  Chúng tôi nghĩ trong hội nghị này, chúng ta có thể chính thức báo cáo với Đảng kính yêu của mình  như  vậy”.

            Đề dẫn nêu lên một nguyên nhân nữa, có lẽ đây mới là nguyên nhân căn bản, ở tầng sâu:

            “Một mặt khác đã góp phần không ít vào tình hình trì trệ này là sự chậm trễ kéo dài, sự thô thiển kéo dài trong công tác lý luận và phê bình văn học!  Sự thô thiển trước hết ở một điểm rất cơ bản: Ở quan niệm về chức năng của văn học.”

            Sự thô thiển ấy biểu hiện cụ thể ở hai vấn đề rất sinh tử đối với nhà văn, đối với sự phát triển của văn học, ấy là:

            1- “Dung tục hoá mối quan hệ giữa hiện thực và văn học.  Nó tuyệt đối hoá hiện thực”, “nó hạ thấp văn học xuống thành một thứ sao chép hiện thực, coi giá trị văn học cao nhất là làm sao cố sao chép cho đúng hiện thực, có thế thôi.  Bởi vì, theo nó, hiện thực đã tốt đẹp đến mức không còn gì có thể tốt hơn, đẹp hơn (đoạn tôi vừa gạch dưới, Đề dẫn để trong ngoặc kép –BMQ).  Quan niệm không mácxít đó đã từng biểu hiện chẳng hạn ở chủ trương tuyệt đối hoá thể người thật việc thật trong văn học, muốn lấy nó làm dòng chủ đạo, thậm chí dòng duy nhất của văn học ta”.

            2-  “Quan niệm thô thiển về chức năng của văn học cũng dung tục hoá mối quan hệ giữa văn học và chính trị. Nó tuyệt đối hóa chính trị, tuyệt đối hoá sự chi phối tất yếu của chính trị đối với văn học.”

   Phê phán những thô thiển nêu trên, Đề dẫn đồng thời yêu cầu nêu cao vai trò sáng tạo của văn học, của chủ thể sáng tạo đối với hiện thực:

            “Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, thu hút không những nguyên liệu mà cả linh hồn các tác phẩm của mình từ đấy, nhưng đến lượt nó, nếu như nó muốn có ích, muốn phục vụ trở lại cuộc sống thì nó lại phải sáng tạo ra một cái gì đó khác, mới mẻ, chưa từng có, cao hơn về chất so với cái nguyên liệu cuộc sống đã cung cấp cho nó.  Ăn dâu nó phải nha ra tơ.  Nếu nó lại nhả ra những cái lá dâu thì bản thân sự có mặt của nó thành vô nghĩa”.

            Và nêu cao vai trò của văn học như thể ngang hàng với chính trị:

             “Văn học nghệ thuật với sức mạnh riêng của nó, làm phong phú thêm cho chính trị, bằng những khám phá và sáng tạo của riêng mình, không thay thế được”.

            Ở phần “Phương hướng nhiệm vụ của văn học trong tình hình mới”, Đề dẫn dựa vào nhận thức của mình về làm chủ tập thể, đặt vấn đề phải nhận thức lại cho đúng vị trí của cá nhân, sau một thời gian dài cá nhân hầu như bị xem nhẹ, bị coi thường, bị nhấn chìm giữa tập thể mù mờ, chung chung, nặng tính chất bầy đàn.  Đề dẫn coi việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể là chìa khoá, là cơ sở của sự phát triển văn học:

  “Vấn đề của chúng ta ngày nay là kích thích niềm khao khát của con người tự phát triển năng lực sáng tạo cá nhân của mình đến cao nhất, để chiếm đoạt toàn bộ thế giới chung quanh, làm chủ nó, cho tất cả, cho xã hội, cho mọi người.  Chứ không phải là xoá bỏ niềm khát khao tự phát triển năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân đi, tạo nên một thứ tập thể vô danh, nặng nề, đồng loạt và  do đó yếu đuối. Tập thể mà sinh động, tập thể mà tinh nhuệ”.

            Vào thời điểm bấy giờ, trong cái bầu không khí ngột ngạt mấy chục năm “văn nghệ phục vụ chính trị” đã thành một định mệnh, một cái vòng kim cô trên đầu mỗi nhà văn, thì những nội dung trên của Đề dẫn quả là chuyện động trời, nhất là lại được nêu ra từ một Đảng đoàn do Ban bí thư trung ương Đảng vừa mới bổ nhiệm, một bí thư Đảng đoàn trẻ (trẻ so với các vị cầm quyền già thôi), một nhà văn tài năng từng đuợc giải thưởng quốc gia cao nhất lại lăn lộn lâu dài ở chiến trường cực kỳ gian khổ ác liệt trở về, đương nhiên phải là người được Đảng tin cậy nhường nào, thế nên Đề dẫn lập tức dấy lên một niềm hứng khởi rất mạnh cho những tâm hồn yêu văn chương, khát tự do bị dồn nén trường kỳ, và cũng dấy lên niềm tin: chắc là sau khi toàn dân dồn sức đã đánh thắng xong đế quốc, thời kỳ tạm gác những yêu cầu dân chủ tự do để đánh giặc đã qua, nay Đảng bắt đầu chủ trương cởi mở để đặt nền móng cho một cuộc phục hưng văn hoá.

            Hai ngày đầu, hội nghị thật sôi nổi, hồ hởi.  Hầu hết ý kiến phát biểu của các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình, những tên tuổi nổi tiếng không những trong nuớc mà phần nào cả ngoài nước, đều nhiệt thành nhất trí với Đe dẫn.  Mọi người dường như cảm thấy đã bắt đầu được đứng trên một tầm cao hơn trước để nhìn thẳng vào tinh hình văn học với tinh thần phê phán khoa học, thực sự cầu thị.  Có một lỗ nhỏ vừa được khai thông nơi cánh cửa đóng kín bấy lâu khiến cho bầu không khí bức bối trong sinh hoạt văn chương học thuật trở nên dễ thở hơn.

            Nhà văn Phan Tứ không phát biểu ý kiến riêng, chỉ giở sổ ghi chép cũ ra (anh nổi tiếng là người chịu khó ghi chép tỉ mỉ, chuẩn xác) đọc lại nguyên xi lời phát biểu của một vài cán bộ lãnh đạo văn nghệ trước đây.  Nào xã hội ta là một xã hội tốt đẹp, không còn có bi kịch, nào là người thật việc thật là một đề tài có tính đặc thù của văn học cách mạng gắn với sự xuất hiện của con người mới xã hội chủ nghĩa trong xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, nào là cần thấy rõ tính ưu việt của sáng tác tập thể v.v và v.v … Anh đọc đến đâu mọi người cười rộ đến đó.  Cái cười của những con người đã trưởng thành nhìn lại thủa ấu trĩ. Tôi nhớ hồi cuối năm 1974, Phan Tứ trở về chiến trường miền Nam lần thứ hai, sau mười sáu chuyến đi nước ngoài làm công tác đối ngoại về văn hoá cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam.  Trở lại chiến trường lần này, anh đem theo đề cương khá chi tiết cho một bộ tiểu thuyết trường thiên, không gian rộng, thời gian dài, nhân vật nhiều và đa dạng, các quan hệ, các xung đột đối chọi đan cài chồng chéo nhào nặn trong các sự kiện lớn đầy tính sử thi lẫn những bi kịch cá nhân và gia đình.  Thật là công việc đáng mơ ước. Cánh viết trẻ chúng tôi nhìn Phan Tứ với rất nhiều khâm phục và kỳ vọng.  Phan Tứ cho biết đề cương bộ tiểu thuyết của anh đã được đích thân đồng chí Tố Hữu, bí thư trung ương Đảng, trưởng ban tuyên huấn trung ương xem kỹ và góp ý kiến đồng thời giới thiệu gửi gắm với các đồng chí lãnh đạo khu uỷ Khu 5 tạo điều kiện thuận lơị để anh thâm nhập thực tế, bổ sung vốn sống.  Khu uỷ khu 5 cử một chiến sĩ vừa làm cần vụ vừa bảo vệ cho anh mỗi khi anh đi công tác.  Mọi người, từ anh chị em đồng nghiệp già trẻ đến các cấp lãnh đạo đều tin tưởng ở Phan Tứ lắm.  Anh xuất thân từ một gia đình có truyền thống học vấn.  Ông cụ thân sinh anh, cụ Lê Ấm, từng là thầy học của các vị trí thức cộng sản nổi tiếng sau này như Tôn Quang Phiệt,  Đặng Thai Mai, Phạm Thiều, Nguyễn Sĩ  Sách.  Mẹ anh là con gái cụ Phan Chu Trinh.  Bản thân anh là người có học vấn cao, dùng thạo hai ngoại ngũ Anh, Pháp, lại là người luôn vì nước xông pha chiến trận, thời trẻ từng là trung đội trưởng trinh sát trong lực lượng tình nguyện quân Việt Nam tại chiến trường Lào, đến năm 1961 vừa học xong đại học tổng hợp thì trở về chiến trường miền Nam, năm 1966 ra Bắc chữa bệnh rồi làm công tác đối ngoại đi nhiều nơi trên thế giới và tranh thủ sáng tác xen kẽ giữa các chuyến đi nước ngoài.  Cuốn tiểu thuyết “Mẫn và tôi” của anh viết trong hoàn cảnh đó mới xuất bản đã được bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ rất hâm mộ, sắp sửa tái bản.  Cuốn tiểu thuyết trước của anh, viết khi đang học đại học, cuốn “Trước giờ nổ súng” thì đã tái bản đến năm sáu lần.  Phan Tứ là người có nếp sống, làm việc hết sức cần mẫn, khoa học, ít khi để phí thời giờ vào những việc không đâu.  Với tài năng như thế, bản lĩnh như thế, ý chí như thế, từng trải như thế, lại được trên quan tâm tạo điều kiện như thế, Phan Tứ quả xứng đáng một hiệp sĩ cho trận quyết chiến lớn đến thế về văn chương. Anh cũng đã tới cái độ chín để có thể tự  tin. Anh bảo với chúng tôi: thường thì xưa nay trong cái nghề của chúng mình, công bố  trước dự định sáng tác là điều tối kỵ.  Ấy thế mà mình đã liều gan làm chính cái điều tối kỵ này.  Cũng là một cách tự rút ván cầu không cho phép mình quay lui nữa.  Tôi hỏi Phan Tứ:

            -Cái tiểu thuyết anh sắp viết, thật lý thú, tụi tôi nghe nói  mà thèm.  Thế cái chủ đề của nó, cái tư tưởng sâu xa, cái tâm sự gan ruột mà anh muốn ký thác, muốn gửi gắm trong đó là cái gì?

            Không cần nghĩ, Phan Tứ trả lời ngay cái điều anh hằng ấp ủ:

            -Sự trưởng thành của con người Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

            Cánh trẻ chúng tôi có một mối băn khoăn thường trực:cần phải phản ánh hiện thực một cách toàn diện, cả mặt sáng lẫn mặt tối, cả trong chiều rộng lẫn chiều sâu, trong toàn bộ tính phức tạp vô cùng vô tận của nó.  Xem ra nhu cầu đó lại dị ứng với quan điểm chính thống.  Vậy thì anh giải quyết vấn đề này thế nào nếu anh bắt tay vào một công trình đồ sộ

nghiêm túc như thế? – Tôi hỏi thêm Phan Tứ.

            Chuyện này thì Phan Tứ phải ngẫm nghĩ.  Rồi anh đáp:

            -Không phải là tự khen, nhưng mình cũng có cái vui nho nhỏ là trong cuốn “Mẫn và tôi” mình đã chạm nhẹ vào cái chuyện này, chuyện phản ánh mặt tiêu cực trong đội ngũ cách mạng, mà không thấy nhà phê bình, nhà lãnh đạo nào “hỏi thăm sức khoẻ”.  Mình có trực tiếp hỏi ý kiến anh Tố Hữu về vấn đề này , anh Tố Hữu bảo cứ phản ánh cái tiêu cực, nhưng ở phạm vi cấp xã thôi.

            Xã hội ta rất tốt đẹp, không có bi kịch. Vui thật.  Tiếng cười rộ kéo dài trong phòng họp.

            Nhà thơ Chế Lan Viên bước lên diễn đàn oai phong như một chiến tướng.  Tôi ngắm ông, đầy ngưỡng mộ.  Đấy, thần tượng thời trẻ của tôi.        

                        Đường về thu trước xa xăm  lắm

                        Mà kẻ đi về chỉ một tôi         

                                                (Chế Lan Viên- Điêu tàn)         

            Câu thơ tuyệt vời đầy ma lực của thi sĩ thần đồng mười sáu tuổi vụt hiện. Năm nào nhỉ, tôi đã ngồi suốt cả ngày trong căn phòng của nhà thơ Xuân Diệu ở biệt thự 24 Cột Cờ (sau đổi là Điện Biên) để chép vào sổ tay mình toàn bộ tập thơ “Điêu tàn” từ cái bản sách quý có lời đề tặng của tác giả mà anh Diệu không cho tôi mang ra khỏi nhà:”Anh

Diệu ơi, tập thơ đầu  của em đây, anh nhận ngay đi”.

            Tập thơ “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên từng là sách gối đầu giường của tôi.  Tôi mua hai cuốn, một cuốn cho mình còn một cuốn tôi chép bài thơ cảm tác của mình về tập thơ vào bìa ba và đem đến tặng lại ông để bày tỏ lòng biết ơn về những gì mà ông đã gieo xuống hồn mình.

                        Tổ quốc thân yêu như  qủa tim thầm

                        Ở giữa lòng ta nào ta có biết

                        Trong xa cách bỗng à ơi giọng Việt

                        Ru hồn ta qua ngàn dặm quê xuân 

                                    (Chế Lan Viên –Ánh sáng và phù sa)   

            Tôi nhìn ra thấy máu thịt quê hương

                        Như đang dâng thành núi đọng thành cồn

                                    (Chế Lan Viên –Ánh sáng và phù sa)

            Hiếm có câu thơ nào nói về cái đất  nước bình dị đằm thắm và đau thương cùng cực này hay hơn thế, da diết thế, thấm lòng đến thế.

            Chế Lan Viên mở đầu lời phát biểu của mình bằng cách trích dẫn một câu gì đó của một tác giả nào đó, tên nghe như tên Đức hay Hy Lạp hay Thỗ Nhĩ Kỳ.  Nghe một lúc mới vỡ.  Và rất khoái.  Hoá ra ông muốn chọc quê một ông tiến sĩ bên Viện văn học phát biểu trước đó, mới đi tu nghiệp ở Đức về nên dốc chứng thế nào cứ luôn miệng trích các tác giả Đức, dùng các thuật ngữ đều chua bằng tiếng Đức.  Rồi tiếp đó, Chế Lan Viên phang tới

tấp vào những quan điểm bảo thủ, thói chụp mũ chính trị ác độc trong phê bình văn nghệ.  Thậm chí ông yêu cầu giải quyết ngay về mặt tổ chức, không nên để ông Vũ Đức Phúc làm viện phó Viện Văn Học.  Nếu tôi nhớ không lầm thì ông đã bảo rằng:”Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một viện phó Viện Văn Học như anh Vũ Đức Phúc là một tai hoa”. Nhà thơ Diệp Minh Tuyền lúc ấy không hiểu sao không ngồi  trên bàn thư ký mà lại ngồi cạnh chỗ tôi, vỗ đùi bình luận khe khẽ:” Hôm nay ông Chế dội B52 vào mấy cha bảo thủ”.

            Nhà văn Nguyễn Đình Thi bước lên diễn đàn.  Tiếng nói của ông là tiếng nói rất được chờ đợi. Ông làm tổng thư ký Hội liên tục từ 1958. Là người nghệ sĩ đầy tài hoa và nhạy cảm, lại là cán bộ cao nhất của Hội chừng ấy năm, ở ông hẳn phải kết tinh tất cả cái nhu cầu sâu xa và bức bách về tự do của người nghệ sĩ mà người lãnh đạo phải giải quyết.

            Với riêng tôi thì nhiều năm dài Nguyễn Đình Thi đã từng là một mẫu người đầy hấp dẫn, một gương mặt rạng ngời tiêu biểu của thế hệ ông, đầy tài trí và giác ngộ cách mạng sớm, dám dấn thân, mới hai mươi hai tuổi ông đã làm rung động bao trái tim Việt Nam yêu nước với những “Diệt phát xít”, “Người Hà Nội”.  Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy ông là khi ông đến trường tôi nói chuyện với học sinh cấp 3 trong một buổi sinh hoạt ngoại khóa về quá trình sáng tác của ông.  Chúng tôi ngồi đầy sân trường.  Tôi chỉ được nhìn ông từ xa, vì tôi ngồi theo lớp tít tận dưới hàng cuối,và khi tan cuộc tôi không thể nào chen nổi qua đám đông các bạn hâm mộ và hiếu kỳ vây kín ông vòng trong vòng ngoài để đến gần ông.  Nhưng tôi nhớ mãi câu chuyện ông kể về những ngày ông ngồi viết tiểu thuyết “Xung kích” ở Việt Bắc.  Ông kể nhà văn Nguyên Hồng đã chăm sóc ông những ngày ấy như chăm sóc một người em, thức khuya dậy sớm pha cho ông từng cốc sữa.  Có lúc ông nản quá, muốn bỏ bút, Nguyên Hồng lại dỗ dành, động viên.

            Tháng tư năm 1959, ở hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ nhất mà tôi được dự, Nguyễn Đình Thi là người đọc báo cáo.  Cũng lại chỉ được nhìn ông từ xa, vì tôi ngồi trong góc cuối hội trường.  Ông nói rất hay về cái chợ trời văn chương trước Cách mạng tháng 8, một cái chợ bát nháo hàng giả hàng thật kể cả nhân cách của nhà văn, đầy rẫy sự chen lấn, chèn ép nhau, tinh vi xảo quyệt có mà sống sượng trâng tráo cũng có.  Ông nói thật hùng hồn về một nền văn học mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, được xây đắp bởi một đội ngũ nhà văn mới, một đội ngũ của những tâm hồn lớn, những nhân cách lớn, đầy trách nhiệm xã hội, xa lạ hẳn với những tháp ngà, hũ nút, xa lạ hẳn với cái thế giới nhớp nhúa sa đoạ của chủ nghĩa cá nhân ngụp lặn dưới vũng bùn bế tắc.  Ông đặc biệt nhấn mạnh về tấm lòng của người viết, tấm lòng đối với Tổ quốc, Nhân dân, đối với Đảng và đối với nhau. Tôi nghe ông như uống lấy từng lời. Làm người, là cái gốc của sự làm nghệ thuật, cốt lõi là thế, tôi tự dặn lòng mình thế.  Tôi tâm niệm thế, từ đấy.

            Tôi đặc biệt nhớ về một buổi sáng mùa hè năm 1962, tôi tới trụ sở báo Văn Học (cũng là trụ sở Hội Nhà văn), một ngôi biệt thự rất đẹp quét vôi màu hồng sẫm ở số 84 phố Nguyễn Du để nhận nhuận bút và báo biếu.  Phòng hành chính ở dãy nhà phụ phía sau.  Nhận xong rồi mà không hiểu tại sao tôi chẳng rời bước, cứ đứng vẩn vơ chỗ sân sau. Đây là cái thế giới của những con người mà tôi hằng ngưỡng vọng, thế giới của những tài năng lớn, những tâm hồn lớn, những nhân cách lớn.  Cho nên tôi cứ nấn ná, nấn ná, dù chỉ là để hít thở một chút cái không khí riêng biệt chốn này. Ở giữa sân sau, bên gốc cây, có một người vào tuổi sắp ngũ tuần, gày gò lẻo khoẻo, mặc bộ quần áo ta màu gụ đang đập bụi cho chiếc áo bông cũ bẩn vắt trên lưng một cái ghế tựa.  Tôi nhận ra đó là nhà văn Nguyên Hồng, vì ông đã từng đến trường tôi nói chuyện về việc ông đã viết “Bỉ vỏ” và “Những ngày thơ ấu” như thế nào.  Dù chỉ được nhìn thấy ông một lần đã lâu, tôi cũng không quên được cái dáng gày gò lẻo khoẻo và bộ quần áo nông dân thấm bụi vỉa hè kia.  Rồi bỗng từ nhà trên bước xuống một người dáng cao cao vai rộng, mái tóc dày, lông mày đen đậm, nước da ngăm ngăm đen, sống mũi thẳng phảng phất nét Ấn Độ, cặp mắt thăm thẳm thật quyến rũ, tay cầm tờ báo Nhân dân, dừng lại bên gốc cây chăm chú đọc, và nói với nhà văn Nguyên Hồng:” Đây, trí thức Việt Nam đây, khí phách thế chứ, cứ coi thường người ta mãi đi!”.  Người vừa nói đó là nhà văn Nguyễn Đình Thi.  Hôm nay tôi mới được nhìn ông gần như thế này.  Ông giơ cho nhà văn Nguyên Hồng đọc hàng tít lớn trên báo, tôi cũng đọc được.  Báo đưa tin về vụ toà án quân sự của Mỹ –Diệm xử tử hình giáo sư Lê Quang Vịnh. Vụ án chấn động dư luận nhân dân cả nước và thế  giới, và không lâu sau bọn sinh viên chúng tôi đã nồng nhiệt hát bài đầy xúc cảm của Nguyễn Tài Tuệ (tác giả bài hát “Xa khơi” nổi tiếng) theo giọng hát Quốc Hương không mấy ngày không vang trên đài:”Lê Quang Vịnh người con quang vinh…”

            Tôi cứ nhớ mãi cái câu nhà văn Nguyễn Đình Thi bật ra khi đọc tin về vụ án Lê Quang Vịnh: “Đây, trí thức Việt Nam đây, khí phách thế chứ, cứ coi thường người ta mãi đi!”.  Khá lâu về sau tôi mới dần hiểu cái tâm trạng nào dồn nén đằng sau cái câu nói ấy.

            Ông bị đòn vì vở kịch” Con nai đen “đâu như từ năm 1961.  Đại hội lần thứ nhất thành lập Hội nhà văn Việt Nam tháng 4 năm 1957, ông chỉ có chân trong Ban chấp hành gồm 32 vị.  Chủ tịch Hội là nhà văn Nguyễn Công Hoan.  Tổng thư ký là nhà văn Tô Hoài. Phó tổng thư ký là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh.  Nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn sau, tháng 9 năm 1958, tổng thư ký Hội là nhà văn Nguyễn Đình Thi.  Không thấy nói gì đến cương vị chủ tịch Hội, tổng thư ký, phó tổng thư ký Hội của các nhà văn nhà thơ Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Sanh nữa.

            Gần đây ông lại bị đòn vì vở kịch “Nguyễn Trãi ở Đông Quan”. Một đòn nặng.  Vở kịch bị cấm diễn.  Nghe nói lệnh cấm bằng văn bản hẳn hoi, một sự hiếm. Và cũng nghe nói người ký lệnh là uỷ viên Bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung uơng Đảng, phụ trách cả khối tổ chức và tư tưởng Lê Đức Thọ.  Xin nhắc lại, điều này tôi chỉ nghe nói thôi, chỉ nêu ra như vậy để rồi sẽ được nghe các nhà văn học sử và chính nhà văn Nguyễn Đình Thi có lời khẳng định hay phủ định.

            Xin trở lại hội nghị hội viên đảng viên.

            Nhà văn Nguyễn Đình Thi bước đến bên micro trong sự chờ đợi hồi hộp của cử toạ.  Ông nói nhiều, nhưng cái điều găm sâu trong trí nhớ của tôi mãi đến nay là ông nhắc đi nhắc lại rằng anh chị em trí thức ta không xoàng về chính trị đâu, tiếp đó ông kể một câu chuyện trong đại hội Đảng lần thứ hai ở Việt Bắc mà ông được dự.  Ông kể chuyện Bác Hồ chỉ tay lên ảnh Staline và Mao Trạch Đông và nói với đại hội: Bác có thể sai, chứ hai ông này thì không sai.  Thật là một câu chuyện kinh thiên động địa.  Hồi này, sau khi nước bạn láng giềng môi hở răng lạnh theo lệnh của Đảng bạn đem quân đánh ta ngày 17 tháng hai năm 1979 thì trên sách báo chính thức đã đưa ra nhiều thông tin về những tội ác rùng rợn dưới triều Mao. Còn những tội ác dưới triều Staline thì chưa dám đụng tới, mặc dù không ít người đã biết qua sách báo nước ngoài. Thế mà sau khi kể câu chuyện động trời trên, nhà văn Nguyễn Đình Thi lại nói đến việc các nhà văn Xô Viết tự tử để phản kháng như thế nào, và lời cuối của ông trước khi rời diễn đàn là bày tỏ hy vọng Đảng ta sẽ dân chủ hơn.

            Nhưng sự kiện được đại hội chờ đợi hơn hết, chờ đợi một cách căng thẳng, hy vọng xen lẫn lo âu, là sự có mặt của nhà thơ Tố Hữu, uỷ viên Bộ chính trị và tiếng nói của ông.  Ông sẽ đến và phát biểu vào sáng mai, ngày cuối cùng của hội nghị.

            Khỏi nói Tố Hữu đã từng là một thần tượng thế nào trong cõi hồn niên thiếu mê văn chương của tôi.                  

                         Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

                        Xao động bên trong một tiếng hò.

            Những câu thơ như từng hạt phù sa thanh sạch và mỡ màu lặng lẽ bồi đắp hồn tôi lúc nào không hay và đọng lại mãi, hoà vào máu thịt tôi.  Cũng như, từ trước thơ Tố Hữu khá lâu, câu hát Phạm Duy “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời…” tôi hát lên như thể chính lòng mình cất tiếng, câu hát như thể đã ở trong tôi tự bao giờ cùng sữa mẹ.

            Rồi tôi học Tố Hữu trong nhà trường.  Học thuộc lòng những câu như:

                        Yêu biết mấy khi con tập nói

                        Tiếng đầu lòng con gọi Xtalin

                                                Tố Hữu (Việt Bắc)

            Những câu này thì không cố học cũng tự nhiên mau thuộc:                    

                        Tôi đã là con của vạn nhà

                        Là em của vạn kiếp phôi pha

                        Là anh của vạn đầu em nhỏ

                        Không áo cơm cù bất cù bơ

                                    (Tố Hữu- Từ ấy)

                        Sống đã vì cách mạng, anh em ta

                        Chết cũng vì cách mạng, chẳng phiền hà.

                                    (Tố Hữu- Từ ấy)

            Vì cách mạng, nghĩa là vì sự đổi đời cho những kiếp sống khốn cùng mà mình đã tự nguyện kết thành ruột thịt kia.  Những câu thơ như men ngấm, như lửa đốt, vừa triết lý vừa giục giã hành động.  Đặc biệt cái câu ông dịch của Marat:”Người ta lớn, bởi vì ngươi cúi xuống.  Hỡi nhân dân hãy đứng cả lên!” đã ngấm tận xương tuỷ tôi mãi đến tận giờ.

            Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy ông là vào cái hôm ông đọc thơ trong cuộc mít tinh khi cả miền Bắc nghe tin vụ thảm sát Phú Lợi ở miền Nam.  Tôi chạy như bay tới cuộc mít tinh và nhìn thấy ông trên bục cao.  Ông chẳng khác bao nhiêu so với tấm ảnh mặc áo trấn thủ in trong tập thơ” Từ ấy” hằng quyến rũ tôi bởi sự bình dị đáng yêu, dễ gần, y hệt mấy anh Vệ Quốc Đoàn gầy ốm mà mẹ tôi vẫn đón về nuôi ở nhà thời kháng chiến chống Pháp.  Trời rét căm căm trong làn gió bấc vật vã, cái giọng Huế đầy truyền cảm chất chứa yêu thương và căm giận của ông vang lên nấc lên vạch đất xé trời:  

                        Đồng bào ơi, anh chị em ơi

                        Hỡi lương tâm tất cả loài người !...

            Toàn bộ con người tôi rung chuyển theo tiếng kêu này. Tôi nhập vào đoàn người biểu tình trước trụ sở Uỷ ban quốc tế, hô đến khàn cả hơi các khẩu hiệu lên án tội ác Mỹ-Diệm ở miền Nam.  Bắt đầu có một tôi khác trong tôi, một cái tôi không yên ổn. Trong các lớp tôi học từ phổ thông rồi lên đại học đều có các bạn quê ở miền Nam. Thỉnh thoảng lại thấy một bạn nghỉ học mấy ngày, rồi đến lớp với gương mặt buồn thảm, cặp mắt đỏ hoe. Các bạn khác cho biết:cha (hoặc mẹ, anh, chị) bạn ấy ở trong Nam bị địch giết. Mặt hồ Tây tĩnh lặng mà tôi thường ngắm qua ô cửa sổ gác ba trường Chu Văn An thân yêu của tôi dường như cũng chứa đựng câu hỏi: giờ phút này, ở miền Nam có ai lại đang bị giết?

            Sau này, đi B, đi vào chiến trường Miền Nam, về Quảng Nam ,tôi gọi là ve, trong những dòng thơ đầu tiên tôi viết khi đặt chân tới chiến trường có những dòng này:

                         Tôi có về chậm không Quảng Nam?

                        Sao tôi không có mặt ở đây từ những ngày quân thù điên

                                                                                    cuồng tố Cộng

                        Khi hàng ngàn đồng chí chúng ta bị âm thầm chôn sống

                        Hàng vạn gia đình yêu nước phải chia tan?                      

                                    (Bùi Minh Quốc-Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ)

            Tôi đã viết thành thơ cái sự thật của lòng mình, một nỗi bất an thường trực dày vò tôi, rằng có thể mình chậm trễ không đến kịp với ai đó đang bị sát hại, tôi học hành không yên, sáng tác không yên,công tác không yên, kể từ khi nghe tiếng kêu thống thiết xé trời của Tố Hữu:           

                        Hỡi lương tâm tất cả loài người !

            Mãi từ đó đến bây giờ, hơn hai mươi năm, tôi mới lại được nhìn thấy ông, lần này thật là gần.  Ông người thâm thấp, hơi đậm, nước da đỏ đắn, dáng vẻ uy nghi “cao cao tại thượng” của người làm quan to lâu năm.  Từ dưới sân trụ sở 51 Trần Hưng Đạo, khi ông vừa bước xuống xe đã có cả đống người quây đón xúm xít bao quanh theo ông lên cầu thang vào phòng họp.  Ông gật đầu đáp lại những cái nhìn sùng kính hoặc có vẻ sùng kính, những nụ cười nịnh nọt kín đáo hoặc lộ liễu, bắt tay một số người đứng dọc hai bên lối đi.  Ông gần như  bá lấy vai nhà văn Nguyên Hồng vẫn gày gò khẳng khiu như bao giờ trong chiếc áo cánh gụ bạc màu, bộ râu cằm để dài cũng đã bạc.  Rồi, như thể bị thôi thúc bởi một tình thân mật bất chợt trào lên, quên mất mình là cán bộ lãnh đạo cấp cao, ông đưa tay vuốt mạnh bộ râu của Nguyên Hồng, nói to:”Râu giả, râu giả!”.  Nguyên Hồng thoáng trân mình, mặt hơi bừng đỏ, không biết vì xúc động hay vì cái vuốt râu bỗ bã không đúng chỗ, không đúng lúc.

            Tố Hữu bước đến bên chiếc micro mà ông yêu cầu chuyển từ bục diễn đàn xuống đầu chiếc bàn dài, ngang tầm ngồi của mọi người. Phải kê micro bằng những quyển sách.  Có ai đó tìm cách kê cao thêm chút nữa nhưng ông ngăn lại, bảo: Chẳng cần kê nữa làm gì, tôi cũng thấp lùn như anh Nguyên Ngọc thôi.  Chúng ta có ai cao lên được cũng là do Đảng kê lên cho thôi.  Câu nói như là một câu nói vui, nhưng lại nhắc đến Đảng thì ghê quá, nên chẳng ai cười được bởi trong giọng nói êm nhẹ như mây trôi đã báo trước sấm sét.

            Quả thế.  Vị uỷ viên Bộ chính trị bắt đầu bài phát biểu của mình bằng chuyện ông mới đi thăm một số cơ sở điển hình ở miền núi.  Ông kể về một cái hợp tác xã miền núi tự làm thuỷ điện,  có điện thắp sáng cả bản, có hệ thống tưới tiêu khoa học, năng suất cây trồng và vật nuôi lên cao hẳn, đàn lợn tập thể nom rất thích mắt, đời sống bà con khấm khá rõ rệt.  Trông coi vận hành trạm thuỷ điện chỉ là một cô gái học lớp ba.  Ông kết luận, đấy, từ một xã hội tiền phong kiến, ở đây người ta đã tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội đấy.  Mà chẳng có phép màu nào ngoài sức mạnh làm chủ tập thể. Những thực tế tuyệt vời này chẳng  đáng được sao chép lắm sao?

            Và thế là, tiếp đó, ông quất tới tấp vào cái luận điểm của Đề dẫn muốn hạ thấp vai trò của sự phản ánh, thậm chí là sự sao chép đi nữa, hiện thực xã hội, nhất là khi hiện thực xã hội đã tốt đẹp đến thế. Rồi cứ thế, cứ thế, ông lần lượt quất, quất mỗi lúc một mạnh vào các luận điểm khác của Đề dẫn, có lúc giọng ông như hét lên, chắc là ông giận dữ lắm. (xin nghe lại băng ghi âm và đọc bản ghi của thư ký đoàn hội nghị do nhà phê bình Ngô Thảo, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nhà thơ Diệp Minh Tuyền thực hiện, lưu trữ ở cơ quan Hội nhà văn, nếu người ta không vô tình hoặc cố ý làm mất những tư liệu ấy).

            Đến giờ nghỉ trưa, cái không khí hồ hởi của hai ngày đầu đã hoàn toàn xẹp xuống thảm hại như một quả bóng xì hơi.  Người bàng hoàng, kẻ ngơ ngác.  Trên quãng đường đi tới tiệm phở đằng phố Bà Triệu dùng bữa phở trưa được dành cho các cán bộ lãnh đạo và đại biểu ở xa, tình cờ tôi đi gần mấy vị trong Đảng đoàn và Ban văn hoávăn nghệ trung ương.  Trong câu chuyện rì rầm trao đổi đã nghe tiết ra cái mùi uốn lưỡi trở cờ.  Một vài người vừa mới hôm qua đây còn đầy hùng biện, đầy khí phách xiển dương những quan điểm mới của Đề dẫn, giờ đã đổi giọng.  Đau đớn thay cho tôi, mấy người đó lại là mấy bậc đàn anh trước kia tôi kính yêu biết bao, tin phục biết bao, ngưỡng vọng biết bao, chỉ được đứng gần họ, nghe họ nói, được họ đưa tay cho bắt, tôi đã sung sướng lắm.  Nhớ hồi còn ở chiến trường có anh em từ  Hà Nội vào đọc cho nghe bài thơ của Xuân Sách tả chân dung một đồng nghiệp đàn anh :”lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa”, tôi đã kêu lên phẫn nộ: “Sao ông Sách ông ấy ác khẩu thế.  Không thể như thế được!” Nhưng đến buổi trưa cái ngày cuối cùng của hội nghị này thì tôi thừa nhận đó là lời tiên tri của nhà thơ Xuân Sách.

            Ăn phở xong, mọi người đã đi cả, nhưng tôi với Nguyễn Chí Trung tự nhiên không hẹn mà cùng ngồi lại quán.  Chị Hường, vợ nhà văn  Đỗ Quang Tiến, một người chị rất đôn hậu chuyên lo cơm áo gạo tiền ở Hội nhà văn, trước khi trả tiền cho chủ quán còn ân cần hỏi hai anh em chúng tôi:

            -Hai anh ăn nữa, tôi mua thêm?

            Rất cảm động vì sự quan tâm của chị, song hai chúng tôi không ai ăn được nữa, dù thường ngày thuộc loại ăn khoẻ.

            Gương mặt Nguyễn Chí Trung đăm chiêu.  Tuy vậy, anh vẫn mỉm cười:

            -Thế đó thôi…

            Tôi chưa hiểu anh định nói gì .”Thế đó thôi…” là câu đầu miệng quen thuộc của anh.

            -Thế đó thôi.  Ở đời, chẳng có việc gì dễ dàng cả.  Huống chi, đây lại là…

            Anh bỏ lửng giữa chừng, ghìm nửa sau câu nói lại trong đầu. Tôi thầm suy đoán, trong ý nghĩ mình, những điều ghìm lại trong ý nghĩ anh: huống chi, đây là cuộc chiến đấu cho cái mới.  Cuộc mở cửa đột phá qua những hàng rào hoen rỉ, lầy nhầy, bùng nhùng, chằng chịt của thế sự và lòng người nhằm vào những boong-ke bảo thủ thâm căn cố đế .  Mà éo le thay, trong những boong-ke ấy, lại có không ít những người đồng chí đáng kính trọng.  Một cuộc chiến đấu như thế, sao có thể suôn sẻ ngọt ngào như ăn chè?

            Tôi biết, đối với Nguyễn Chí Trung, những đòn quất vào Đề dẫn cũng là những đòn quất vào chính anh.  Anh đang như người lính nằm giữa cửa đột phá gan góc trân mình dưới làn hoả lực từ lô cốt bắn ra dữ dội.  Nhiều điều gan ruột tích tụ trong mình, anh đã đem chia sẻ với Nguyên Ngọc mong được đóng góp chút ít gì đó một cách lặng lẽ vào công việc chung qua ngòi bút của Nguyên Ngọc khi chấp bút Đề dẫn.  Những điều gan ruột ấy là kết quả sự trải nghiệm nhiều năm mà đỉnh điểm của quá trình đó là cú giật mình hãi hùng trước thực tế ở Cam-pu-chia.

            Sau những tháng cùng đi chiến dịch giải phóng Cam-pu-chia trở về, ở Đà Nẵng, anh đã nhiều lần bảo với tôi, cái giọng như tự đay nghiến mình:

            -Trước tất cả những gì đã diễn ra ở Cam-pu-chia thì mình giật mình đến hãi hùng. Chết cha rồi.  Nguy to rồi.  Không còn con người nữa, đến cả cái tín hiệu sơ đẳng nhất của con người cũng không còn . Chúng ta phải đặt lại vấn đề cá nhân…           

           Đề dẫn viết :

            “Những gì đã diễn ra ở Cam-pu-chia trong 3 năm dưới sự thống trị của bọn Pôn pốt –Iêng Xa ri, tay sai của bọn cầm quyền Bắc kinh, đã làm bộc lộ khá rõ thực chất của chủ nghĩa Mao, cái lý tưởng xã hội kỳ quặc và khủng khiếp của nó.  Cái xã hội mà chúng lập nên ở Cam-pu-chia là một hình ảnh điển hình khá toàn diện và đầy đủ của chủ nghĩa Mao.  Cốt lõi của cái kiểu “xã hội” ấy là sự thủ tiêu chính xã hội, thủ tiêu con người với tư cách sơ đẳng nhất là con người, thủ tiêu triệt để mọi quan hệ xã hội của con người cho đến những quan hệ sơ đẳng nhất, phá vỡ tận gốc mọi quan hệ xã hội mà con người đã xây dựng được trong suốt lịch sử tiến lên hàng vạn năm của mình, đẩy lùi con người trở lại tình trạng bầy đàn tăm tối nhất”.

            Tôi kể với Nguyễn Chí Trung rằng, phần nào giống như anh, trong tôi cũng diễn ra một cú giật mình.  Và không chỉ giật mình. Mà rùng mình. Mà nhục nhã.  Ấy là giờ phút tôi bước vào các cơ quan đầu não của triều đại Pôn pốt ở Phnom Pênh chiều ngày 7 tháng 1 năm nay, 1979. (Tôi đi với tiểu đoàn 3, trung đoàn 1, sư đoàn 341).  Cái đập vào mắt tôi giây phút ấy, thô bạo, tàn nhẫn như một cái tát, là lá cờ đỏ búa liềm.  Phải, lá cờ búa liềm căng ở chỗ trang trọng nhất.  Chính dưới lá cờ này, buổi tối ngày 6 tháng 5 năm 1967, tại căn phòng Bộ biên tập Đài Tiếng Nói Việt Nam, chi bộ Ban văn nghệ của Đài tiến hành lễ kết nạp tôi vào Đảng Lao Động Việt Nam nay là Đảng Cộng Sản Việt Nam.  Chính dưới lá cờ này, đêm hôm ấy tôi đã thề suốt đời trung thành với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, chống lại đến cùng mọi ách áp bức, bóc lột, bất công , để xây dựng một xã hội ưu việt hơn hẳn tất cả các hình thái xã hội đã từng có trong lịch sử: xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.  Trong cuộc đấu tranh đó, là người đảng viên, người chiến sĩ tiền phong của nhân dân, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”, tôi nguyện luôn đi đầu, không nề hà gian khổ, hy sinh.  Cho đến nay, kể từ khi giơ tay tuyên thệ dưới cờ, tôi đã luôn rèn luyện mình để đủ sức trung thành với lời thề.  Tôi cũng đã thấy, trước tôi và quanh tôi, biết bao đồng chí đã dâng hiến đời mình cho cách mạng không chút so đo tính toán.  Mà không chỉ các đảng viên.  Đông đảo hơn nhiều, biết bao người dân thường, những bà mẹ, những cô gái, những ông già, những em bé, những người không thể định nghĩa thế nào là Tổ quốc, là Cách mạng, không biết thế nào là chủ nghĩa Mác Lê Nin, đã sống chiến đấu như những người cách mạng chuyên nghiệp, tận tuỵ phục vụ, âm thầm hy sinh, khí phách can trường đến ngay cả rất nhiều đảng viên cũng chưa dễ sánh kịp,sau ngày chiến thắng hầu hết đều ở ngoài biên chế, không ít người đi lên đi xuống mòn đường chết cỏ mới xin được tờ giấy chứng nhận, tấm bằng khen thưởng, mấy đồng trợ cấp, chưa kể không ít người còn chịu những ức hiếp kêu trời không thấu.

            Vậy mà rồi, cũng chính dưới ngọn cờ búa liềm này, đã diễn ra những cuộc sát hại rùng rợn đại quy mô của các chế độ Staline, Mao Trạch Đông nhằm vào những người cách mạng trung kiên nhất, những trí thức văn nghệ sĩ tài năng nhất, ngay thẳng nhất cùng biết bao người vô tội khác.  Cũng chính dưới ngọn cờ này, đã diễn ra cuộc chiến tranh biên giới Trung-Xô, cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt.  Biết bao con người chất phác lương thiện cùng tôn thờ một lý tưởng đã nhảy xổ vào bắn giết nhau dưới cùng một ngọn cờ này.

            Và đây, ở Cam-pu-chia, ngay trước mắt chúng ta, tôi và anh, chúng ta đã thấy tận mắt cuộc diệt chủng diễn ra dưới ngọn cờ này do bàn tay tổng bí thư Pônpốt mà cách đây không lâu tổng bi thư Lê Duẩn của chúng ta đã cùng ký bản tuyên bố chung xác lập mối quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai nước.

            Chúng ta cắt nghĩa thế nào về sự đối chọi quái đản giữa danh và thực ấy? Điều gì, nguyên nhân bí ẩn nào đã biến cái liềm cắt cỏ gặt lúa thành cái liềm cắt cổ người, cái búa rèn lưỡi cày thành cái buá đập đầu người?

            Tất cả những người cộng sản trên thế giới, nếu còn có lương tri, phải trả lời trước nhân loại câu hỏi này, phải vậy không? Và chúng ta, những người cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng ta có hoàn toàn vô can trước sự thực rùng rợn, nhục nhã này không? Chúng ta phê phán nguyền rủa chủ nghĩa Mao trên đất Trung Quốc và Cam-pu-chia, nhưng còn chủ nghĩa Mao trong Đảng Cộng Sản Việt Nam và những hệ quả của gớm guốc của nó trên đất Việt Nam, chả lẽ chúng ta lờ đi?  Và chủ nghĩa Staline nữa, nó có nhiễm vào Đảng ta không, nhiễm đến mức nào, và gây hoạ cho đất nước như thế nào?

            Nguyễn Chí Trung nhìn sững tôi, rồi thong thả nói, như muốn uốn nắn tôi theo thói quen chính uỷ:

            -Bậy nào, làm gì có chuyện lờ đi. Năm ngoái, trong nghị quyết chống Trung Quốc của Bộ chính trị, Đảng ta đã nghiêm khắc phê phán tư tưởng nông dân. (Tôi hiểu, đó là anh nói về nghị quyết của Bộ chính trị chúng tôi vừa học mùa hè năm ngoái, khi ấy chưa thể nêu đích danh Trung Quốc nên gọi là nghị quyết chống kẻ thù X).

            -Việc phê phán tư tưởng nông dân trong nghị quyết nêu, tôi thấy còn chung chung và mờ nhạt, mà chủ yếu chỉ để phân ranh giới chính trị giữa ta và Trung Quốc, chứ chưa phải là một hành động nghiêm túc rà soát lại tư tưởng của bản thân mình.

            -Tất nhiên, đây mới là bước đầu, va trước hết phải tuân thủ những yêu cầu chính trị hiện thời. Những gì chưa phù hợp với yêu cầu chính trị hiện thời, ta không lờ đi nhưng phải từ từ rồi sẽ động đến.

            -Anh Trung à, cách đây không lâu, anh Lê Đình Yên có nói với tôi hai điều tôi cho là rất hệ trọng, khiến tôi nghĩ ngợi nhiều.  Anh Yên bảo: mình có mấy cái ý kiến này, nói ra thì đụng đến triều đình, mà không nói không được, mình nói riêng với cậu để chúng ta cùng suy nghĩ.  Thứ nhất là lâu nay ta cứ có cái kiểu viết, nói quy mọi công lao giải phóng dân tộc về cho Đảng ta, như thế không đúng đâu.  Phải thấy sức mạnh giải phóng dân tộc là sức mạnh vốn có của dân tộc, sức mạnh nghìn đời, Đảng ta chỉ giỏi ở chỗ phát huy thôi.  Quy hết công cho Đảng, tự nhiên thành ra hạ thấp vai trò của các tầng lớp nhân dân, làm nặng thêm cái căn bệnh kiêu ngạo  cộng sản không phải là không trầm trọng trong Đảng ta.  Thứ hai là vấn đề ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao vào Đảng ta, phải rà soát kỹ ảnh hưởng đó không những về mặt tư tưởng mà cả về mặt tổ chức, nhân sự nữa, không làm nghiêm túc chuyện này thì bản thân Đảng vẫn luôn luôn chứa chấp một nguy cơ, một nguy cơ lớn…

            Anh Lê Đình Yên, thiếu tướng Lê Đình Yên, chủ nhiệm thanh tra quân đội Quân khu 5, thủ trưởng của chúng tôi.  Anh tham gia cách mạng và vào Đảng Cộng Sản từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945.  Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp anh hoạt động ở chiến trường Khu 5, sau những năm tập kết ra Bắc trở về chiến trường cũ khá sớm, từ 1961.  Tôi được gặp anh lần đầu tiên năm 1968 khi anh từ Phân khu nam (gồm Phú Yên, Khánh Hoà) chuyển ra làm phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 5.  Dáng người cao cao, gày nhẳng, cặp mắt rất hiền đầy nghĩ ngợi sau cặp kính cận, giọng nói trầm trầm từ tốn, giá để mái tóc dài và đừng mặc quân phục thì anh thật giống một đạo sĩ, còn lúc ấy anh là hình ảnh trọn vẹn một chính uỷ mẫu mực không những chỉ vì ý chí sắt đa và phẩm hạnh mà cả về trí tuệ, một yếu tố không dễ gặp ở các chính uỷ.  Tôi ở bên tiểu ban văn nghệ thuộc Ban tuyên huấn Khu uỷ nên ít có dịp gặp anh, nhưng buổi gặp đầu tiên ấy khiến tôi nhớ mãi.  Sau khi anh Nguyễn Chí Trung giới thiệu tôi với anh, anh hỏi thăm tôi về sáng tác, về những vấn đề tôi quan tâm nhất, những điều tôi đang suy nghĩ.  Rồi bằng một giọng như chia sẻ, chứ không phải nhắc nhở, huấn thị- cái tật kinh niên của không ít cán bộ có chức vị trong Đảng, lúc nào cũng thích huấn thị người khác- anh bày tỏ với tôi những gì mà anh cho rằng không thể thiếu được ở một nhà văn.  Mãi sau năm 1975 tôi có điều kiện gần anh nhiều hơn và làm việc trong cơ quan do anh phụ trách. Khu uỷ giải thể, chỉ còn Quân khu.Một số anh em văn nghệ chúng tôi, cả trong quân đội lẫn bên ngoài vì gắn bó với mảnh đất Khu 5 ,muốn tiếp tục viết về những năm tháng đáng ghi lại nhất của chiến trường này nên không muốn chuyển ra các cơ quan trung ương, cũng không muốn về các tỉnh đang bề bộn những công việc cấp thời rất trở ngại cho sáng tác. Do sáng kiến của anh Nguyễn Chí Trung, Trại sáng tác văn học Quân khu 5 được thành lập, gồm hơn một chục anh em viết văn ở Quân khu và Khu uỷ cũ, là một đơn vị khá đặc biệt do anh Nguyễn Chí Trung phụ trách, trực thuộc một cơ quan lớn là Ban tổng kết chiến tranh mà anh Lê Đình Yên làm thủ trưởng. Ban tổng kết chiến tranh tập hợp khoảng sáu chục sĩ quan từ đại uý đến đại tá vừa có trình độ lý luận lại là những người từng xông pha trận mạc lâu dài nhất, điêu đứng nhất, am hiểu những giai đoạn tiêu biểu nhất, từ đủ các mặt trận tập hợp về.  Cách tổ chức này tạo điều kiện cho anh em viết văn chúng tôi tiếp cận được một phần những hồ sơ chiến tranh trước kia thuộc loại cơ mật,tìm hiểu lại có hệ thống cuộc chiến tranh mình vừa trải qua ở tầm rộng lớn hơn, từ chủ truơng vĩ mô đến diễn biến thực tế trên chiến trường.  Câu chuyện hàng ngày, ngoài công việc, vớí các cán bộ quân sự chính trị chiến tích đầy mình, kinh nghiệm phong phú cùng vô số những hy sinh mất mát riêng tư đã làm giàu có gấp bội vốn sống trực tiếp của chúng tôi. Là cán bộ chính trị, lại là thủ trưởng cơ quan, nhưng anh Yên rất hay gần gũi trò chuyện với anh em nhà văn chúng tôi, vừa chia sẻ ,vừa lắng nghe và tiếp nhận.  Bản thân tôi cũng được tiếp nhận từ anh những điều quý giá.  Anh thạo tiếng Pháp, biết chữ Hán, rất chịu đọc chịu nghĩ, mỗi suy nghĩ đều là kết tinh của học vấn lẫn những trải nghiệm đầy phong trần của con người trọn đời chiến đấu, lại được đảm bảo bởi một nhân cách trong sáng.  Anh hiện ra với tôi như một người thầy.  Thỉnh thoảng, ngoài giờ làm việc, anh lại ghé vào với tôi ở cái chung cư văn nghệ 1 B Ba Đình (Đà Nẵng), hoặc tôi đến nhà anh phía gần bãi biển Thanh Bình. Có lần, anh hỏi tôi:

            -Cậu có quen vơi cụ Đặng Thai Mai không?

            -Dạ không.  Có việc gì không anh?

            -Mình có một điều này muốn tìm người để hỏi, có lẽ phải hỏi những người như cụ Đặng Thai Mai.  Mình cứ nghĩ mãi về cái chữ Co trong Quốc hiệu Đại Cồ Việt xưa kia của nước ta.  Co là tầm nhìn xa của chim ưng, Cồ cũng còn có nghĩa là sự nhìn chú mục vào một điểm nào đó, là nỗi sợ hãi.  Có phải cha ông ta muốn dồn chứa trong chữ Co này toàn bộ cái số phận, cái đặc trưng của dân tộc ta, phải luôn để mắt ra xa chung quanh, phải luôn cảnh giác mối hoạ từ bên ngoài, đồng thời cái nỗi lo lớn nhất, dai dẳng nhất, thường trực nhất là nỗi lo hoạ xâm lăng.  Và đặc điểm này chứa đựng toàn bộ chỗ mạnh chỗ yếu của dân tộc ta?

            Tôi không biết chữ  Hán nên chả biết nói gì với anh, chỉ biết nghe.  Nhưng những điều anh Yên nói về chữ Co khiến tôi ngạc nhiên; cái tên Đại Cồ Việt có lẽ người Việt Nam không mấy ai không biết, nhưng nghĩ ngợi về nó như anh Yên thì tôi mới gặp anh là một.

            Tôi hỏi anh Nguyễn Chí Trung:

            -Chắc anh Lê Đình Yên cũng thường trao đổi ý kiến với anh về vấn đề Đảng và dân tộc, Đảng và chủ nghĩa Mao?

            -Có, có.  Ông Yên có trao đổi với mình khá nhiều về chuyện ấy. Nhưng mình thấy cần chú trọng một điều này : trong khi xem xét ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao vào ta, thì cũng đồng thời phải xem xét sức cưỡng lại của Đảng ta, của dân tộc ta đối với nó.  Điều này quan trọng lắm.  Nếu không thì lệch.  Mình thấy bây giờ Đảng ta nêu lý luận làm chủ tập thể là rất đúng, có điều phải làm rõ trở lại vai trò của ca nhân, của động lực cá nhân và mối quan hệ mới giữa cá nhân với tập thể, với cộng đồng.  Đặt vấn đề như  Đề dẫn là trúng, trúng lắm.

            -Vâng, tôi cũng thấy đây là cái mới của Đề dẫn, đương nhiên là mới trong hoàn cảnh của ta.  Nhưng sau buổi phát biểu của ông Tố Hữu sáng nay thì liệu rồi sẽ ra sao đây? Hồi nãy khi vừa tan họp xong tôi đã nghe có vị trong Đảng đoàn hôm qua rất hăng hái xiển dương Đề dẫn lại nói thế này: Giữa lúc Đảng đang nói làm chủ tập thể mà Đề dẫn lại nhấn mạnh cá nhân thì Nguyên Ngọc có ý đồ gì? Theo anh, chiều nay anh Ngọc sẽ phải kết luận hội nghị như thế nào?

            -Theo mình, đây chính là thử thách đối với Nguyên Ngọc. Nhưng mình tin ở bản lĩnh của Ngọc.  Cứ sự thật mà nói thôi. Có điều phải nói cho khéo, thái độ thật mềm mỏng.

            Buổi chiều, nhà văn Nguyên Ngọc thay mặt Đảng đoàn phát biểu kết luận hội nghị.  Anh nói, một cách giản dị, ngắn gọn, hội nghị đã nhất trí với Đề dẫn và đóng góp những ý kiến làm phong phú thêm, đồng thời hội nghị thấy cần nghiêm túc nghiên cứu ý kiến đồng chí Tố Hữu.

            Câu kết luận của Nguyên Ngọc”Hội nghị nhất trí với Đề dẫn”đã khiến nhiều người kinh ngạc, vì, sao lại còn dám nói như thế sau khi ông Tố Hữu đã phê phán dữ dằn như thế.  Nhưng làm sao Nguyên Ngọc có thể  nói khác được, bởi đó là sự thật.

            Tan họp, không khí buồn buồn, lo lo. Một thứ ám khí nào đấy lởn vởn quanh quất, đầy đe doạ.

            Một số những diễn biến về sau tôi không trực tiếp chứng kiến, chỉ nghe kể, cũng xin ghi lại.

            Nhà văn Nguyên Ngọc kể rằng, sau hội nghị ít ngày, một buổi tối, Nguyên Ngoc, Giang Nam, Nguyễn Khải, đang ngồi tại nhà số 4 Lý Nam Đế (trụ sở tạp chí Văn nghệ Quân đội) thì nhà thơ Chế Lan Viên tới, anh nói với cả ba người: “Để mình dẫn Nguyên Ngọc lên gặp anh Tố Hữu, Ngọc nhận lỗi là mọi việc ổn cả thôi”. Giang Nam, Nguyễn Khải không nói gì.  Nguyên Ngọc đáp:”Tôi thấy không có gì phải nhận lỗi,mà nếu cần gặp anh Tố Hữu thì tự tôi sẽ đi,không cần ông phải dẫn”. Từ đó chỉ có một lần Nguyên Ngọc đến gặp đồng chí Tố Hữu để đề nghị ông can thiệp cho nhà văn Phan Tứ lúc ấy đang lâm bệnh nguy kịch được giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng trực tiếp khám chữa. Cuộc gặp chỉ diễn ra trong mươi phút và chỉ nói về việc đó.  Về sau, trong quá trình tiến tới đại hội lần thứ tư Hội nhà văn, có một bức thư gửi BCH Hội mang tên người viết là Chế Lan Viên (chưa ai xác minh rõ là Chế Lan Viên nào) được đánh máy truyền tay trong đó nói rằng “Nguyên Ngọc khóc nhận khuyết điểm với anh Tố Hữu” là một sự bịa đặt xấu xa - vẫn theo lời anh Nguyên Ngọc.

            Trại sáng tác văn học Quân khu 5 hợp nhất với tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tôi chuyển về đây làm biên tập văn xuôi, với Thanh Quế cùng ở Khu 5 ra và Triệu Bôn ở B2 (Nam bộ) đã ra trước từ ngay sau 1975.  Bọn tôi tự nhiên dễ gần nhau, thông cảm nhau, vì cùng đã từng lăn lóc quăng quật ở chiến trường, cùng sống độc thân ở cơ quan, lại cùng thích uống rượu, nào có gì lắm, chỉ vài chén rượu gạo mỗi buổi chiều, uống suông, sang ra thì thêm mấy nhân lạc, thế thôi.

            Vào thời gian Ban bí thư trung ương Đảng chuẩn bị nghị quyết về công tác tư tuởng, có mời một số văn nghệ sĩ họp để nghe ý kiến. Cuộc gặp này do đồng chí Lê Đức Thọ, uỷ viên Bộ chính trị chủ trì.  Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, quyền tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội đi họp về, vẻ mặt rầu rĩ, kể với tôi: trong cuộc họp, nhiều người, trong đó có cả các uỷ viên Đảng đoàn Hội nhà văn mà hăng hái dữ dằn nhất là ông Chế Lan Viên đã lớn tiếng phê phán Nguyên Ngọc hết sức gay gắt vì bản Đề dẫn, kết cho Nguyên Ngọc các tội rất nặng như chống nghị quyết của Đảng, quan điểm tư sản.v.v.

            Các diễn biến tiếp ở Hội nhà văn, hàng ngày anh Nguyên Ngọc thường về kể với tôi và anh Oánh. Anh Ngọc cho biết ở bên ấy đã dấy lên một không khí cực kỳ tệ hại y như các cuộc đấu tố hồi cải cách ruộng đất mà anh là đối tượng bị đấu.  Phần lớn ý kiến đều có tính truy bức, quy anh là quan điểm tư sản, là chống lại các nghị quyết của Đảng. Nguyên Ngọc chỉ có một vài người ủng hộ,ra sức chống đỡ, phản bác các luận điệu quy kết chụp mũ, nhưng rồi cũng đã phải thừa nhận là có lúc có bối rối về tư tưởng.  Một buổi trưa, anh Ngọc về nói với tôi và anh Oánh:”Tôi thấy ngao ngán tởm lợm quá các ông ạ, họ đòi  tôi phải từ chức, có lẽ tôi rút lui thôi”.  Tôi và anh Oánh đều cương quyết phản đối bằng những lời lẽ mà các chính uỷ thường dùng ở chiến trường trong những tình huống gay cấn:”Không được! Không được! Ông từ chức tức là giảm sút ý chí chiến đấu, là thoái thác nhiệm vụ”. Vốn là người lăn lộn lâu ở chiến trường, nghe chúng tôi nói, Nguyên Ngọc tĩnh trí lại ngay.  Anh bảo:”Sáng nay tôi có nói mơm mớm có thể sẽ tính đến chuyện từ chức, mấy người có vẻ mừng rỡ lắm”. Tôi và anh Oánh cũng góp ý:”Đảng đoàn và bí thư Đảng đoàn là do Ban bí thư chỉ định. Ông hãy nói với những người đòi ông từ chức rằng ông không thể rời bỏ nhiệm vụ khi Ban bí thư chưa có ý kiến gì, chừng nào Ban bí thư ra quyết định bảo nghỉ  thì nghỉ”.

            Tôi thầm nghĩ, vu cho nhau là quan điểm tư sản, là chống tất cả các nghị quyết của Đảng, thì cũng bằng muốn giết nhau rồi còn gì.  Nhưng điều đáng kinh tởm là ở chỗ những người kia thừa biết Nguyên Ngọc không thể là người như thế, mà họ vẫn cứ lu loa lên như thế để rốt cuộc đòi Nguyên Ngọc từ chức.  Đằng sau những lời lẽ hoa mỹ đao to búa lớn rần rần bảo vệ quan điểm của Đảng, đã thấy cuồn cuộn bốc ra mùi xôi thịt.

            Anh Oánh bàn với tôi, bây giờ cần làm ngay một việc gì để góp phần làm sáng tỏ sự thật, cho tình hình đừng phát triển xấu thêm nữa.  Theo anh thì phải viết thư khẩn lên ông Lê Đức Thọ để ông biết điều gì đang xảy ra ở Hội nhà văn, và với cương vị và trách nhiệm hiện thời, ông ắt có bịên pháp thích hợp.  Ông Lê Đức Thọ là uỷ viên Bộ chính trị, uỷ viên trực Ban bí thư, trưởng Ban tổ chức Trung ương lại phụ trách cả khối văn hoá tư tưởng, nên viết thư gửi ông là trúng chỗ nhất. Tôi bảo anh Oánh, anh  có kinh nghiệm, anh thảo lá thư rồi tôi với anh cùng ký.  Anh Oánh tròn mắt nhìn tôi như thể tôi ở cung trăng vừa rơi xuống, phì cười:

             -Ông ngu bỏ mẹ, ông không biết là Đảng mình kỵ nhất cái chuyện ký kiến nghị đơn thư tập thể à?

            -Ơ, hồi học phổ thông tôi vẫn ký kiến nghị tập thể chống bom nguyên tử, hồi trước khi đi B tôi cũng ký đơn tập thể đòi vào miền Nam chiến đấu, những việc ấy vẫn làm bình thường theo chủ trương của Đảng, sao lại kỵ?

            -Ừ, những việc ấy thì được làm bình thường, nhưng việc này thì lại kỵ. Ông cứ ở trong Đảng lâu thêm rồi sẽ hiểu. Bây giờ mình bàn thống nhất nội dung rồi mỗi người viết riêng, với giọng văn riêng, viết tay chứ tuyệt đối không đánh máy, tuyệt đối không để lộ cho ai biết, rồi tận tay mang đến tận nhà ông Lê Đức Thọ mà đưa.

            Bàn xong chúng tôi làm liền. Trước khi gửi đi, chúng tôi chạy qua nhà Nguyên Ngọc bên khu tập thể quân đội số 8 cùng phố để anh xem cho biết trước nội dung.  Xem xong cả hai thư của tôi và anh Oánh, Nguyên Ngọc bảo:”Các ông thấy cần làm gì theo lương tâm thì cứ làm, mình không thúc giục mà cũng không ngăn cản”. Tôi hiểu, Nguyên Ngọc nói thế để khẳng định anh không xúi giục chúng tôi làm chuyện rất dễ bị vu là bè phái, một tội tày đình đối với mỗi đảng viên cộng sản.  Ra khỏi nhà Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Oánh rỉ tai cho tôi biết số nhà riêng  của ông Lê Đức Thọ ở phố Nguyễn Cảnh Chân.  Nếu tôi nhớ không lầm thì hình như nhà số 6.  Tôi bỏ thư vào túi đạp xe tới đó ngay.  Dựng xe trước cổng, tôi vừa ấn nhẹ nút chuông thì lập tức cánh cổng hé mở, một người lính mang súng ngắn từ bót gác gỗ dựng sau tường rào bước ra đứng nhìn tôi với cái nhìn lạnh rợn người.  Tôi nói ngay:

            -Tôi cần gửi một bức thư khẩn tới đồng chi Lê Đức Thọ.

            -Anh cứ đưa tôi chuyển.

            -Xin đồng chí chuyển ngay giúp cho.

            -Được, tôi chuyển ngay.

            -Cám ơn.

            Tôi thong thả đạp xe dọc con phố hai đầu có rào chắn không cho xe có động cơ chạy qua, hai bên toàn là các cơ quan chóp bu và biệt thự riêng của các nhân vật chóp bu của Đảng, lòng khấp khởi hy vọng.  Nếu như thư đến được tay ông Lê Đức Thọ, hẳn ông sẽ cho kiểm tra ngay và khi biết rõ sự thật ắt sẽ ra lệnh ngăn chặn tình trạng lợi dụng chiêu bài đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng để giành giật chức quyền đang diễn ra ác liệt ở Hội nhà văn.  Hồi đó tôi còn rất đỗi tin tưởng ông Lê Đức Thọ là một người công tâm.  Tôi không bao giờ quên được cái ấn tượng đầy xúc động khi nhìn thấy ông lần đầu tiên trong hội nghị tổng kết chiến dịch mùa mưa ở biên giới Tây Nam của Quân đoàn 4 họp tại căn cứ Sóng Thần.  Ông mặc bộ đồ đại cán màu xám giản dị, đứng ở vị trí quan trọng nhất trên chủ tịch đoàn, giở chiếc mũ cối ra khỏi mái đầu bạc phơ đầy phúc hậu, đưa tay từ tốn đáp lại những tràng vỗ tay nồng nhiệt của các đại biểu, gồm toàn những sĩ quan tướng tá uý xuất sắc nhất của quân đoàn.  Phát biểu với hội nghị ông đã không cầm được nước mắt khi nhắc tới biết bao cán bộ và chiến sĩ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến, những đồng chí còn sống trở về sau ngày hoà bình tưởng đã được nghỉ ngơi chăm lo gia đình hầu như đã kiệt quệ, ai ngờ lại phải tiếp tục cầm súng âm thầm lao vào một cuộc chiến tranh mới (lúc ấy còn bí mật) gây ra bởi một kẻ đã từng là bạn bè đồng chí chí cốt. Những giọt nước mắt của ông rung động lòng tôi, khiến tôi cảm thấy một nhân vật quyền thế vào hàng số hai số ba trong Đảng  sao mà gần gũi, sao mà đáng tin cậy.

            Tôi về nhà một lát thì anh Oánh cũng đạp xe vào cổng. Tôi ra dấu bằng mắt và một cái hất hàm nhẹ hỏi anh đã gửi thư cho ông Thọ chưa.  Anh kín đáo gật đầu, miệng cũng kín đáo tủm tỉm cười.

            Hai chúng tôi lên phòng tôi trên gác.  Buổi trưa vắng vẻ yên tĩnh, mọi người đang ngủ trưa. Phòng tôi nằm giữa phòng anh Thanh Tịnh đã nghĩ hưu và phòng anh Xuân Sách đã chuyển ngành ra làm phó giám đốc nhà xuất bản Hà Nội, ban ngày ít khi ở nhà.  Anh Oánh cẩn thận lùa cả hai đôi dép vào trong phòng rồi đóng chặt cửa, vặn chốt.  Anh bảo tôi kể lại đã gửi thư như thế nào, nghe xong, anh xác nhận, bằng giọng thì thầm:

            -Như thế là đưa đúng nhà ông Thọ đấy.

            Im lặng một lát, tôi hỏi anh:

            -Anh nghĩ thế nào về ông Lê Đức Thọ?

            Anh Oánh ngẫm nghĩ hồi lâu rồi sẽ sàng:

            -Kể cũng khó nói, vì mình chưa bao giờ có dịp được gần gũi hoặc trực tiếp làm việc với ông ấy, chỉ thấy ông qua một số cuộc hội nghị. Nhưng mình nghĩ qua việc bổ nhiệm Nguyên Ngọc làm bí thư Đảng đoàn, thì ông ấy hẳn phải giữ một vai trò quan trọng, rất quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, đối với lãnh vực của tụi mình.

            Tôi lại hỏi:

            -Như vậy là mình đã gửi thư đến  đúng địa chỉ đáng tin cậy chứ?

            Anh Oánh lặng lẽ gật đầu.

            Chúng tôi đang khấp khởi hy vọng thì một hôm, khoảng non một tuần sau, bí thư chi bộ Xuân Thiều và đại tá cục phó cục văn hoá quân đội Chính Hữu vừa gặp tôi ở sân nhà số 4 Lý Nam Đế (trụ sở tạp chí Văn nghệ Quân đội) đã chặn đầu choảng ngay:

            -Này ông Quốc, các ông định biểu tình hả?

            Bị bất ngờ, tôi hơi hoảng, không biết chuyện gì mà ghê gớm vậy.

            -Sao, tôi chưa hiểu các anh định nói việc gì?

            -Ai cho phép các ông gửi thư lên Bộ chính trị?

            Việc riêng bí mật của mình đã bị lộ- tôi thoáng nghĩ nhanh và gắng giữ bình tĩnh, đánh ngay ván bài ngửa:

            -Gửi thư lên Bộ chính trị là việc bình thường, có gì mà các anh hạch tôi ghê thế?

            -Không, theo nguyên tắc, mỗi người cần đề đạt điều gì thì phải gửi cho cấp trên trực tiếp của mình, rồi mỗi cấp xem xét và chuyển dần lên trên tuỳ theo tầm quan trọng của vấn đề. Trừ trường hợp anh khiếu nại về cấp trên trực tiếp của mình thì mới được gửi vượt lên một cấp.

            -Thì tôi làm đúng việc ấy đấy, chỉ có điều là tôi nói về việc bên Hội nhà văn.

            -Người ở cơ quan này không được phép can thiệp vào công việc của cơ quan khác.

            -Ô hay, tôi là hội viên Hội nhà văn mà không được quyền có ý kiến về công việc của lãnh đạo Hội à?

            Tôi thuật lại cho anh Oánh nghe cuộc chạm trán giữa tôi với hai ông Xuân Thiều , Chính Hữu.  Anh Oánh chu miệng thở dài, lắc đầu:

            -Thôi bỏ mẹ, thế là thư tụi mình gửi cho ông Lê Đức Thọ bị ném vòng trở xuống rồi.  Hèn nào mấy hôm trước thấy lão Nguyễn Thanh cứ thì thọt xuống gặp Xuân Thiều có vẻ bí mật lắm,thì ra là chuyện này.

            Ông Nguyễn Thanh , đâu như trước kia từ bên công an chuyển sang, hiện là vụ trưởng một vụ quan trọng ở Ban văn hoá văn nghệ trung ương, nghe nói là cánh tay phải của ông Hà Xuân Trường, trưởng ban.

            Có một việc gieo lại chút hy vọng mơ hồ.  Nguyên Ngọc được ông Lê Đức Thọ mời lên gặp riêng. Sau cuộc gặp, Nguyên Ngọc có vẻ yên tâm hơn. Anh thuật lại, chắc chắn là khó đầy đủ, nội dung cuộc gặp ấy cho tôi và anh Oánh nghe.  Đại khái là có những lời động viên, đánh giá cao về cá nhân Nguyên Ngọc, một số lời nhắc nhở về tình hình chính trị phức tạp, về âm mưu thủ đoạn địch, về yêu cầu đoàn kết nội bộ, một vài lời”uốn nắn” tế nhị…

            Chúng tôi đều hy vọng-một cách mong manh- nghị quyết sắp ra của ban bí thư về tư tưởng văn hoá sẽ có những kết luận rành mạch.

            Hoá ra là hy vọng hão.

            Nghị quyết chỉ đề cập đến những vấn đề cấp bách (không biết đã bao nhiêu lần cấp bách thế rồi), trong công tác tư tưởng, văn hoá! Đoạn nói đến văn nghệ chỉ rất ngắn và chung chung, nghĩa là những người có quan điểm khác biệt nhau anh nào cũng có thể bẻ một nửa nghị quyết để tự vệ và phản bác lại đối phương.

            Các cơ sở Đảng trong các cơ quan văn hóa văn nghệ ở trung ương triển khai học tập nghị quyết,mà nơi nóng bỏng là Hội nhà văn và tạp chí Văn nghệ Quân đội.Lại một dịp để đấu nhau về quan điểm, và hẳn không chỉ về quan điểm, mà đối tượng tập trung bị đấu ai cũng thấy trước là bản Đề dẫn. Thái độ đối với Đề dẫn là thước đo lập trường quan điểm của mỗi người, ai cũng hiểu ngầm thế.Trước khi học nghị quyết,tất cả các nhà văn ở tạp chí Văn nghệ Quân đội và phòng Văn nghệ Quân đội được Tổng cục chính trị mời vào phòng họp của Tổng cục trong thành Thăng Long (khu vực trú đóng các cơ quan tối cao của quân đội) để nghe ông Nguyễn Thanh bên Ban văn hoá văn nghệ Trung ương sang nói chuyện.Sự có mặt của cả ba vị tướng ủy viên trung ương Đảng, phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Nguyễn Nam Khánh (kiêm bí thư đảng uỷ Tổng cục),Trần Văn Phác,Đặng Vũ Hiệp khiến tôi hiểu ngay cuộc họp này thật quan trọng.Toàn bộ cuộc nói của ông Nguyễn Thanh đều tập trung vào việc phê phán những lệch lạc nghiêm trọng của Nguyên Ngọc mà chứng cớ trọng tội làĐề dẫn.Ay thế mà sau khi ông Nguyễn Thanh nói xong,có một nhàvăn nào đấy hỏi ông nội dung chủ yếu của Đề dẫn là gì,thì, thật đáng kinh ngạc và đáng“khâm phục”,ông chỉ thoáng chút ngượng nghịu rồi trả lời một cách xanh dờn rằng:”Tôi đọc hơi lâu rồi nên cũng quên cả”.  Sở dĩ có người hỏi ông vậy là bởi phần lớn những người đến ngồi nghe ông phê phán Đề dẫn đều chưa được đọc Đề dẫn.  Đây là một cái nếp tệ hại đã trở thành một “truyền thống” đáng xấu hổ mà hầu như chẳng mấy ai thấy xấu hổ: người ta cứ hùng hổ phê phán hoặc nghe phê phán rồi lặp lại như con vẹt cái mà người ta không đọc hoặc đọc một cách hời hợt.  Câu trả lời của ông Nguyễn Thanh khiến mấy vị tướng chủ nhà cũng không giấu được vẻ mắc cỡ, còn cánh nhà văn nhìn nhau với ánh mắt như ngầm nói: kinh chưa, các quan trên đùa nhả đến thế là cùng!

            Hôm sau ở cơ quan chúng tôi phải sinh hoạt tổ đảng để mỗi người tự bộc lộ quan điểm của mình đối với Đề dẫn.  Tôi nhớ nhà thơ Vương Trọng đã phải bực bội thốt lên rằng, thật không thể nào hiểu được, đường đường một đồng chí vụ trưởng chuyên theo dõi văn hoá văn nghệ đứng ra phê phán người ta đủ điều vì cái Đề dẫn, mà rồi rốt cuộc thú nhận chẳng nhớ Đề dẫn nói những gì. Sao lại tuỳ tiện đến thế, coi khinh anh em đến thế? Cuộc sinh hoạt phải tạm hoãn vì mọi người yêu cầu phải đánh máy Đề dẫn ra làm nhiều bản phát cho anh em nghiên cứu trước đã.Nhưng cấp trên  chỉ cho đánh máy đủ mỗi tổ một bản, ngồi họp lại một người đọc cho cả tổ cùng nghe, sau đó các bản Đề dẫn này lại bị thu lại ngay.  Họp tổ rồi họp toàn thể cán bộ sáng tác, biên tập, cả trong lẫn ngoài Đảng.  Ở tạp chí Văn nghệ Quân đội hầu hết là đảng viên.

            Ở đâu và lúc nào thì các cuộc đấu tranh về quan điểm, ngoài nhu cầu chính đáng tìm kiếm chân lý đều thường dễ chen vào sự tranh đoạt chức quyền. Ở tạp chí Văn nghệ Quân đội vào thời điểm này tình trạng ấy càng thêm gay gắt. Từ sau khi nhà thơ Vũ Cao tổng biên tập tạp chí chuyển ngành ra ngoài làm giám đốc nhà xuất bản Hà Nội thì Văn nghệ Quân đội chưa có tổng biên tập.  Có mấy cán bộ sàn sàn nhau, Tổng cục chính trị chắc là e ngại xảy ra phân bì giành giật nên chưa quyết định chọn hẳn ai ,chỉ mới tạm giao Nguyễn Trọng Oánh làm quyền tổng biên tập , ba phó tổng biên tập là Hồ Phuơng, Xuân Thiều, Nguyễn Chí Trung.           

            Nguyễn Trọng Oánh là dân Văn nghệ Quân đội cũ đi chiến trường miền Nam hồi năm 1966 mãi sau 30 tháng 4 năm 1975 mới trở về. Cho đến thời điểm tôi đang kể, anh vẫn chưa đoàn tụ được gia đình vì  chưa có chỗ ở riêng. Vợ anh dạy học trong Hà Đông, bao nhiêu năm xin chuyển về Hà Nội vẫn chưa được. Con trai may xin được đi học nghể ở Tiệp Khắc, anh cùng hai con gái ở tạm một căn phòng trên gác nhà số 4 này.  Giáng Vân, con gái đầu, vừa tốt nghiệp đại học tổng hợp văn (ôi, cháu cũng lại theo cái nghiệp văn chương khốn khổ) còn Tâm em Vân đang có việc làm tạm tại một cơ sở của quân đội.  Có hy vọng người ta sẽ cấp cho một căn hộ mãi trong Kim Giang vùng ngoại ô trồng rau muống ven con sông Kim Giang nước thối quanh năm.  Nhưng đi lên đi xuống mòn đường chết cỏ vẫn chưa thấy đâu cái quyết định cấp nhà.

            -Hình như ông Xuân Thiều sắp được cấp nhà ngay trên đường Lý Nam Đế này, sao anh không xin một căn hộ ở đấy cho gần?-tôi hỏi anh Oánh.

            Anh nhìn tôi mỉm cười thiểu não:

            -Ông tưởng dễ lắm đấy? Cái thớ mình làm sao mà chen nổi được vào những chỗ ngon lành thế.

            Cái tính anh thế, không hề bon chen, chỉ biết tận tuỵ phục vụ, nhận phần khó, phần thiệt về mình. Tôi đã được anh kể cho nghe ít sự tích chuyện đi B-đi chiến trường miền Nam - ở cái tạp chí Văn nghệ Quân đội này. Những người đi sớm nhất là Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn), Nguyên Ngọc, đi từ năm 1962.  Rồi đến ông Văn Phác chủ nhiệm tạp chí vào làm phó chủ nhiệm chính trị Quân giải phóng miền Nam. Năm 1966, ông Văn Phác điện ra xin một số cây bút cứng của Văn nghệ Quân đội vào tăng cường cho lực lượng trong đó.  Không thấy có tên Nguyễn Trọng Oánh trong danh sách, chắc vì chưa được coi là cây bút cứng.  Còn các cây bút cứng thì, người kêu bệnh này tật nọ, kẻ la lối: “Tôi là hình nhân thế mạng à?”. Rốt lại chỉ có hai người xung phong đi là Nguyễn Trọng Oánh và Trúc Hà (Nam Hà), hai cây bút khi ấy chưa được nổi tiếng bằng các cây khác.  Sau những năm dài ở chiến trường trở về, xen giữa những lời chúc mừng thật lòng, cũng đã có người, vẻ đùa cợt thân thiện mà đầy hàm ý, bảo với Nguyên Ngọc và Nguyễn Trọng Oánh:”Hai ông là hai cây trọng pháo ở cái nhà số 4 này”. Mới nghe thì đó là lời khen tặng, nhưng ngẫm kỹ thì cũng chả hoàn toàn là thế.  Nguyễn Trọng Oánh cặm cụi viết, vốn sống tích lũy từ chiến trường đang bề bộn, tiểu thuyết “Đất trắng” ra tập 1 được dư luận chú ý ngay. Tôi thấy anh thích được ngồi viết hơn là làm tổng biên tập.  Thỉnh thoảng lại nghe anh kêu mệt, mệt vì sức khoẻ phần nào, nhưng chủ yếu mệt vì cái bầu khí đầy rẫy sự dòm ngó soi mói sẵn sàng hạ nhau vì một sơ hở nào đấy trong nội dung tờ tạp chí.  Mà sơ hở thì thiếu gì, khi mỗi câu, mỗi chữ đều được đặt dưới cặp kính của người lính gác cổng về tư tưởng.  Dưới cặp kính ấy thì ngay đến cái phẩm chất người nghệ sĩ –chiến sĩ cũng có lúc bị nghi vấn, hạch sách.  Chẳng hạn tôi nhớ có lần anh Oánh cho đăng một bài của tôi viết về kỷ niệm mấy anh em văn nghệ Khu 5 đi chiến dịch có đoạn kể Nguyên Ngọc, Thu Bồn và tôi đã đọc thơ vàđọc cả tuỳ bút nữa, ở cửa hầm nhà bà Bốn Thí (thôn Tây, xã Điện Thọ, Điện Bàn, Quảng Nam) trước một công chúng đặc biệt, đó là đội quân tóc dài- đội quân đấu tranh chính trị sắp sửa xuống đường đêm giáp tết Mậu Thân trong khi hoả lực pháo, cối từ căn cứ Bồ Bồ ngay cạnh bắn ra tới tấp.  Tôi kết luận bài báo: từ ánh mắt những người nghe đêm ấy, chúng tôi nhận được một nguồn sức mạnh phi thường để rồi không còn biết lùi bước trước bất kỳ một trở lực nào.  Bài báo đăng vào thời điểm Nguyên Ngọc đang bị nện mạnh vì Đề dẫn.  Thế là trong cuộc họp biên tập, ông phó tổng biên tập Xuân Thiều liền đưa ra chất vấn: tác giả muốn ám chỉ trở lực nào trong xã hội tốt đẹp của ta hiện nay?  Lại có hàm ý như thách thức, thách thức ai? Viết như thế, đăng như thế có lợi gì ? Ông ta phê người viết đã đành, nhưng cái chính là phê người cho đăng, tức là anh Oánh.  Tuy nhiên chúng tôi, Thanh Quế,  Triệu Bôn, tôi và anh Nguyễn Chí Trung vẫn động viên anh Oánh kiên trì làm nhiệm vụ của mình, không được nản.  Bởi chúng tôi thấy anh là người chân thực, trong sạch, khẳng khái, dám bảo vệ những gì mình cho là đúng, trong khi mấy người đang nhấp nhỏm nhảy vào cương vị của anh thì hoàn toàn xa lạ với những đức tính ấy.

            Trong ba phó tổng biên tập thì phó tổng biên tập Hồ Phương là nhà văn nổi tiếng từ kháng chiến chống Pháp với truyện ngắn “Thư nhà”. Nhưng sau truyện ngắn ấy chưa thấy có tác phẩm nào đáng chú ý ngoại trừ truyện ngắn “Cỏ non” được dư luận coi là tương đối khá.  Trong tập thơ “Chân dung nhà văn” của Xuân Sách có chân dung số 1 là vẽ ông:

                        “Cỏ non nay chắc đã già

                        Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.  

            Thời kháng chiến chống Mỹ, ông có đi B theo dạng gọi là “B ngắn”, vào chiến khu Trị Thiên ít tháng trở về viết mấy cuốn người thật việc thật in sách, đăng báo, phát sóng rôm rả.  Đặc biệt ông có cuốn ký sự “Chúng tôi ở Cồn Cỏ” mặc dù ông không cần ra đảo Cồn cỏ (Đây cũng là phương thức phục vụ kịp thời của một số nhà văn hồi đó, chẳng hạn nhà văn Nguyễn Khải có ký sự “Hoà Vang” ghi theo lời kể của một cán bộ từ Hoà Vang ra).  Ô ng là dân cựu trào ở Văn nghệ Quân đội, lại nổi tiếng sớm , nên khi ông Vũ Cao đi, không ít người đã đinh ninh chiếc ghế tổng biên tập đương nhiên phải thuộc về ông .

            Phó tổng biên tập Xuân Thiều vào làng văn với tập truyện ngắn “Đôi vai”.”  Đôi vai thì gánh lập trường. Đôi tay…”Thơ  “Chân dung nhà văn “vẽ ông thế.  Tôi thấy đúng lắm.  Ông lúc nào cũng tỏ ra rất là lập trường, trong các cuộc hội nghị. Sau chuyến đi B ngắn trở về ông có tiểu thuyết “Thôn ven đường” . Ông có thế mạnh hơn hai ông phó kia là có thêm chức bí thư chi bộ, coi như một chứng chỉ ngời ngời về lập trường, quan điểm.

            Phó tổng biên tập Nguyễn Chí Trung  viết ít, có thể nói là quá ít và rất kỹ tính trong văn chương.  Anh được biết đến nhiềù với truyện ngắn “Bức thư làng Mực” được đưa vào tuyển tập và sau đó giữ chỗ thường xuyên trong các tuyển tập. Nhưng công việc chủ yếu choán hết thời gian tâm sức của anh là công việc của một cán bộ chính trị. Con người nhà văn và con người cán bộ ở anh đều chung một niềm say mê, phải nói một niềm say mê khác thường mà tôi thấy ít nhà văn ít cán bộ nào sánh kịp, ấy là niềm say mê lao vào thực tế.  Tôi quen anh từ năm 1967, đã được anh tạo điều kiện cho đi các chiến dịch của quân chủ lực.  Tôi thấy anh lúc nào cũng lăn lộn mê mải ở những nơi gian khổ nhất, dễ chết nhất, khi thì cùng với các đội viên đội công tác rúc rào vượt hào vào các ấp chiến lược, khi thì cùng các chiến sĩ đặc công cắt rào vào tận lô cốt giặc.  Trong trận đánh chiếm căn cứ Liệt Kiểm (Quảng Nam) năm 1972, anh được cử làm phái viên xuống một đơn vị đặc công. Trận thắng giòn giã.  Anh đựơc tặng thưởng huân chương nhờ công lao đóng góp cho đơn vị, một điều hiếm có đối với các phái viên.  Chiến dịch Thượng Đức năm 1974 do binh đoàn Hương Giang đảm nhiệm, anh ở trong đoàn phái viên của Quân khu 5 cử đến tham gia hỗ trợ.  Trận then chốt bị nhâm nhây.  Nguyễn Chí Trung lặng lẽ mò xuống tận đại đội chủ công tìm ra nguyên nhân sự trục trặc là do mở sai hướng đột phá.  Anh giúp đơn vị mở hướng đột phá mới. Đánh thắng xong, người đại đội trưởng cũng không biết tên anh, chỉ biết là một đồng chí nhà báo cấp trên (Nhà văn Cao Tiến Lê năm ấy đi chiến dịch đã thuật lại việc này trong một bài ký sự).  Say mê thực tế bao nhiêu lại say mê học tập bấy nhiêu, dù tuổi đã lớn.  Dốc hết tiền lương ra mời thày dạy riêng tại căn gác nhà số 4 Lý Nam Đế hằng đêm.  Mãi chẳng chịu lấy vợ vì còn mải mê chiến đấu, mải mê học tập. Tôi cứ tiếc mãi một điều, niềm say mê thực tế, say mê học tập đã làm mòn mỏi trong anh niềm say mê ngồi vào bàn viết.

            Đấy, cái bàn cờ nhân sự trong giới lãnh đạo ở tạp chí Văn nghệ Quân đội vào thời điểm đấu tranh quanh vụ Đề dẫn là như vậy.

            Trong các cuộc họp kiểm điểm sau khi học nghị quyết Ban bí thư có cả thượng tá Phạm Bá Hoà phó bí thư đảng uỷ Tổng cục chính trị và hai trung tá phái viên, một người tên là Tràng, còn người nữa tôi không biết tên, ngồi dự thường xuyên.  Những anh muốn chứng tỏ lập trường với cấp trên càng được dịp tha hồ múa võ mồm. Hồ Phương, Xuân Thiều ráo riết phê phán Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Chí Trung là cùng có quan điểm với Đề dẫn, nghĩa là tư sản, là một giuộc với phần tử xét lại Garôdi, là mơ hồ, chao đảo, là lệch lạc nghiêm trọng. Chưa dám quy là chống Đảng, chắc có lẽ vì thấy chơi thế thì nó đao búa lộ liễu quá, cái tội chống Đảng từ lâu vốn đã ngầm được coi ngang với tội tử hình hoặc khổ sai chung thân, hạ nhau bằng miếng này không khỏi mang tiếng thất đức. Nguyễn Chí Trung còn bị quy thêm tội là đồng tác giả của Đề dẫn.  Tội này thì không oan, mà Nguyễn Chí Trung cũng chẳng chối. Anh bảo vệ Đề dẫn như người lính giữ chốt đơn độc chống phản kích. Trích dẫn đủ hết, nào Mác, nào Ăng ghen, Lê Nin, đưa hết các cụ tổ lý luận ra làm khiên mộc.  Ông Xuân Thiều lại lôi chuyện “biểu tình”để nện tôi và anh Oánh.  Chúng tôi kiên quyết phản đối. Tại sao viết thư cho Bộ chính trị lại là biểu tình được?  Nói như vậy là vu cáo, là chụp mũ.  Ông Chính Hữu buộc phải có lời xin lỗi và rút lui hai tiếng “biểu tình”.  Tuy vậy ông cũng khăng khăng nhấn mạnh lại nguyên tắc không được gửi thư khiếu nại vượt cấp.  Ông Xuân Thiều còn quy chúng tôi cái tội trong khi Bộ chính trị đang bận trăm công ngàn việc hệ trọng mà gửi thư như vậy là “làm rối” Bộ chính trị. Sợ thật! Nhiều người nghe vậy không khỏi nhìn nhau tủm tỉm cười.

            Có lần, khi túm tụm mấy anh em ngoài cuộc họp, tôi nghe Nguyễn Khải bảo Nguyễn Chí Trung:”Gớm cái thằng Xuân Thiều.  Còn ai hiểu cái quan điểm lập trường của nó hơn mình.  Mình chỉ cần nói một câu thôi cũng đủ găm nó vào tường”

            -Sao ông không nói? –Nguyễn Chí Trung hỏi lại.

            -Ông Trung ạ, kinh nghiệm chiến trường thì ông với ông Ngọc, ông Oánh có thừa, nhưng kinh nghiệm chính trường thì các ông còn là phải học nhiều, học nhiều. Ở đời có ba cái đam mê mà ít có thằng đàn ông nào cưỡng nổi:mê gái, mê tiền, mê quyền.  Xin ông nhớ cho…

            Tất cả nhìn nhau cười vui vẻ.

            Đêm về, ngồi với nhau bên chén rượu suông trong phòng riêng, anh Oánh cứ nhìn tôi khe khẽ lắc đầu thở dài ngao ngán. Ngao ngán vì bao nhiêu lời lẽ dữ dằn đưa ra sát phạt về lập trường quan điểm suy cho cùng cũng chỉ là trò tranh xôi giành thịt y hệt bọn quan lại lý hào cũ, chỉ khác bây giờ được phết lên lớp sơn cách mạng.  Ngao ngán hơn nữa vì lẽ: mình thật lòng lo lắng cho Đảng, viết thư báo động với cấp cao nhất về tình hình đáng được trên đặc biệt lưu tâm ở Hội nhà văn thì người ta ném bức thư vòng trở xuống để bên dưới có thêm cớ làm thịt nhau.

            -Ngạt thở lắm rồi! Ngạt thở lắm rồi! Yêu cầu Quốc Hội…!

            Tiếng kêu thường lệ của cái ông điên điên bên ngôi nhà đối diện kề sân sau trụ sở báo Quân đội Nhân dân lại cất lên. Ngày nào cũng vậy, cứ đến giờ này là ông ta lại thò cổ ra khỏi ô cửa nhỏ của căn gác áp mái và kêu lên như thế.  Có hôm ông kêu ngay từ lúc chập tối, kêu suốt đến đêm, lạc cả giọng.  Và cứ lặp đi lặp lại chừng ấy:

            -Ngạt thở lắm rồi!  Yêu cầu Quốc Hội!…Ngạt thở lắm rồi!…

            Không nhớ ông ta kêu thế từ bao giờ.  Cũng không ai rõ nguồn cơn nào trong tiếng kêu ấy.  Nghe mãi quen tai, không còn ai động lòng.  Tôi có hỏi thăm, người ta chậc lưỡi:”Ông ấy điên mà!…”

            Tôi mở cửa sổ nhìn sang.  Không thể nào nhìn rõ ông ta được.  Căn gác áp mái của ông nằm ngoài vùng sáng vàng vọt của thành phố thiếu điện.  Chỉ nghe tiếng kêu mà đoán ra.  Tựa hồ tiếng kêu của một kiếp người tuyệt vọng nhưng không chịu tuyệt vọng.

            Dưới đường, những chiếc xe bò chở than nối nhau lững thững đi.

            Móng bò khua lộp cộp uể oải, rã rời.  Những chiếc xe đổi thùng người kéo lình kình lầm lũi đi. Bóng mấy người công nhân cũng đen kịt lầm lũi như chiếc xe. Đã bao nhiêu năm rồi, thủ đô đã trải qua bao biến cố vĩ đại, mà vẫn nguyên đấy biểu tượng sống động của một cuộc đời tù đọng, ung rữa, từ thời tôi còn bé…

            Ít lâu sau, anh Nguyễn Trọng Oánh viết thư lên Tổng cục chính trị xin rút khỏi cương vị quyền tổng biên tập, chuyển sang tổ sáng tác.  Anh Nguyễn Chí Trung được cử (hoặc bị điều) đi học ở học viện chính trị sau đó đi Cam-pu-chia.

            Bên Hội nhà văn, cuộc đánh Đề dẫn không chỉ diễn ra trong các cuộc họp nội bộ mà nhảy lên mặt báo. Đây là một hành vi vô nguyên tắc, vì Đề dẫn là một tài liệu nội bộ, chỉ phổ biến trong các hội viên đảng viên dự hội nghị tháng 6 năm 1979.  Sau này tôi mới hiểu, khi người hoặc nhóm quyền lực nào đó trong Đảng định đánh ai thì họ bất chấp nguyên tắc.  Báo Văn Nghệ liên tiếp đăng các bài gọi là”Thư đầu năm viết cuối năm gửi một chị Kim Nga nào đó của Chế Lan Viên đánh đòn rất nặng vào Đề dẫn (Nguyên Ngọc) và bài” Về một đặc điểm của văn học nước ta” (Hoàng Ngọc Hiến).  Gần đây tôi mới biết nhà văn Vũ thị Thường, vợ nha thơ Chế Lan Viên, có tên thật là Lê Kim Nga.

            Bài của Hoàng Ngọc Hiến thì trước kia đăng trên báo Văn Nghệ.  Riêng Đề dẫn thì người ta chỉ lẩy ra ít câu để đánh chứ không được đăng ở đâu cả. (Mãi đến năm 1988, khi tôi làm tổng biên tập tạp chí Langbian của Hội Văn nghệ Lâm Đồng mới đưa đăng được một nửa thì tạp chí bị ngưng). Cái kiểu trói tay bịt miệng đối thủ rồi xúm lại đánh như thế vẫn kéo dài về sau và không biết còn kéo dài đến tận bao giờ- mà vụ đánh bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” của Hà Sĩ Phu và bài” Từ bỏ chủ nghĩa cộng sản…” của Phan Đình Diệu (trả lời phỏng vấn của nhà sử học Na uy Stein Tonnesson) là những bằng chứng điển hình.

            Nguyên Ngọc cho tôi biết, trong Đảng đoàn, anh hầu như đã trở nên đơn độc. Những người lúc ban đầu tỏ ra chí cốt, tương đắc với anh, nay chẳng còn ai. Ông Chế Lan Viên thì thế. Ông Nguyễn Khải thì đã xếp ba lô để nhót vào Sài Gòn, trước khi bỏ chạy cũng quay lại phê phán Nguyên Ngọc với Đề dẫn để bày tỏ lập trường với trên.  Nhiều năm sau, trên báo Công an  TP Hồ Chí Minh số Tết Nhâm Thân (1992), tôi đọc thấy những lời này của ông: “Hễ có dịp được viết bài hay phát biểu trước đám đông về những lỗi lầm văn nghiệp của bạn bè, tôi thường tìm những câu những chữ ác độc để chứng tỏ sự sắc sảo khôn ngoan của mình.  Nổi danh bằng cách giẫm đạp lên tử thi của người khác quả là ghê tởm, nhưng đúng là thế”.  Đấy là ông nói về sự độc ác vô tâm thời trẻ của mình.  Không biết đến cái thời xảy ra vụ Đề dẫn thì thế nào?  Còn cái cảnh ghê tởm giẫm đạp lên tử thi của người khác thì thấy vẫn cứ diễn ra dài dài đến tận giờ.  Lớp sau tiếp lớp trước, lớp nào cũng không thiếu những nhà này nhà nọ giẫm đạp lên tử thi các đồng nghiệp nạn nhân của mình để không phải chỉ nổi danh mà để kiếm một cái ghế trong Hội, Hội đồng, Quốc Hội hoặc Ban này Bộ nọ.  Tất cả như thể quay cuồng trong một mê hồn trận do một thế lực quỷ sứ phù phép, thứ  phép thuật được nhào luyện bởi một bàn tay thì cầm cần câu nhử mồi danh lợi, còn tay kia thì tước đoạt đến tận cùng cái quyền đựơc có quan điểm riêng của mỗi con người.  Bất luận kẻ nào có quan điểm khác biệt hoặc đối lập với quan điểm chính thống đều phải bị trừng trị, lộ liễu có, tinh vi có. Một cái lò khổng lồ sản sinh ra muôn vàn điều ác, đúng như B.Paxtecnăc đã báo động từ nửa thế kỷ trước:”Tai hoạ chủ yếu, cội nguồn của cái ác trong mai sau chính là mất lòng tin vào giá trị  của ý kiến riêng”.

            Tôi nhớ một buổi tối mùa hè nóng nực, tôi với vợ chồng anh Nguyên Ngọc ngồi hóng mát ở sân sau nhà số 4 Lý Nam Đế.  Anh Nguyễn Khải đi đâu chơi về cũng ghé lại góp chuyện.  Chị Tâm vợ anh Ngọc vốn người thẳng tính, hỏi độp anh Khải:

            -Này ông Khải, ông đọc cái truyện “Xốtnhicốp” của Vaxin Bưcốp chưa?

            Anh Khải đáp ngay với một tiếng cươi  hề hề, đầu hơi ngoẻo:

-         Rồi, đọc rồi.  Tôi biết bà hỏi thế là bà định nói tôi cái gì rồi…

Cái truyện vừa của Bưcốp kể về một đôi bạn Hồng quân Liên Xô đi trinh sát trong vùng phát xít Đức chiếm đóng, bị địch truy đuổi họ không hề rời nhau, nhưng khi bị địch bắt thì một người đã phản bạn, phản quốc, khai báo hết với địch, mặc dù trước đó anh ta đã ra sức cõng bạn khi bạn bị thương.  Kết cục cả hai cùng bị giặc treo cổ.

Nguyễn Khải lái  nhanh câu chuyện sang đề tài khác. Bầu khí đang hơi sượng mau chóng bình thường trở lại.

Sau này, có lần Nguyên Ngọc nói với tôi: Điều bi thảm hơn hết và đáng suy ngẫm hơn hết là ở chỗ những người thông minh sắc sảo vào hàng nhất nước như ông Chế Lan Viên, ông Nguyễn Khải, các ông ấy thừa biết cả.  Các ông ấy thừa biết thế nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là cũ, thế nào là mới,  các ông ấy căm phẫn những kẻ giáo điều học phiệt chẳng khác gì mình, ấy thế mà rồi… thế đấy.

Điều Nguyên Ngọc nói làm tôi nhớ lại đầu mùa thu năm 1975 khi lần đầu tiên tôi ra Hà Nội nghỉ phép sau 8 năm ở chiến trường, một hôm được gặp ông  Chế Lan Viên ở sân trụ sở Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật 51 Trần Hưng Đạo.  Ông thuật lại vắn tắt cho tôi, một kẻ từ chiến trường lớ ngớ bước ra, về vụ người ta vừa đánh một số tác phẩm văn nghệ năm 1974.  Ông thuật lại với một mối căm phẫn đang còn rất sôi sục trong lòng. Ông bảo nếu không có chiến thắng 30 tháng 4 thì còn khối anh em chết vì cái vụ này.  Ông đặc biệt căm phẫn một bài trên tạp chí Học Tập (sau đổi là tạp chí Cộng Sản) hô hoán rằng đã thấy bốc lên một luồng tà khí trong văn học. “Tàkhí nào? Tàkhí nào?” ông Chế dằn giọng hỏi, tất nhiên là hỏi một người vô hình nào đó, gương mặt tái đi vì căm phẫn.

            Ấy thế mà rồi ông vẫn luôn làm như không có gì xảy ra hết, và lẳng lặng ngồi vào cái bàn tiệc bày tòan bánh vẽ.

                                    BÁNH VẼ

            Chưa cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ

            Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn

            Cầm lên nhấp nháp

            Chả là nếu anh từ chối

            Chúng sẽ bảo anh phá rối

            Đêm vui.

            Bảo anh không còn có khả năng nhai

            Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…

            Thế thì còn dịp đâu nhai thứ thiệt?

            Rốt cuộc, anh lại ngồi vào bàn

            Như không có gì xảy ra hết

            Và những người khác thấy anh ngồi

            Họ cũng ngồi thôi

            Nhai ngồm ngoàm

                                      CHẾ LAN VIÊN

             (Văn học và dư luận- Nxb TP HCM tháng 8/1991)

            Không biết đến nay còn bao nhiêu người vẫn kiên trì ngồi trong bàn tiệc bánh vẽ để mong có một ngày được nhai thứ thiệt? Mới đây có anh bạn từ Hà Nội vào bảo với tôi rằng trên các bàn tiệc bây giờ là bánh thật rồi chứ không phải bánh vẽ nữa (anh dẫn chứng ông tổng thư ký nọ, ba ủy viên kia được cấp nhà tiêu chuẩn bộ trưởng, thứ trưởng), chỉ có điều muốn được ăn bánh thật thì phải nói dối điêu luyện y như thật.

            Ông Chế Lan Viên trong loạt thơ cuối đời có một bài là bài” Đà đao”. “Bước đường cùng thì cũng phải đà đao” *.  Có lẽ bài” Bánh vẽ” tôi vừa dẫn trên là một cái miếng đà đao trong thế trận chữ nghĩa mấy mươi năm hung hiểm.  Nhưng chẳng biết cái miếng đà đao này ông nhằm vào ai? Tôi đồ rằng ông nhằm cái kẻ đã đẩy ông, một thi tài trác việt đến thế trong thời trẻ, lâm vào cảnh bao năm ròng, để mong ngóng có ngày sẽ được nhai thứ thiệt, đã phải…giết…giết…

                        Cái cần đưa vào thơ tôi đã giết rồi

                        Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười

                        Giết một kỷ niệm, giết một uớc mơ

                        Tôi giết cái cánh sắp bay trước khi tôi viết

                        Tôi giết bão ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ

                        Giết luôn cả mặt trời lên trên biển.  Giết mưa

                        Và giết luôn cả cỏ mọc  trong mưa luôn thể.

                        (Trích bài “Trừ đi “của Chế Lan Viên đăng trong tạp chí

                                                 Tác phẩm mới)

            Lại nói về Nguyên Ngọc.  Tuy vẫn làm bí thư Đảng đoàn nhưng Nguyên Ngọc bị vô hiệu hoá dần.  Người ta đưa ông Bùi Hiển làm thường trực Hội. Rồi có quyết định giải thể các Đảng đoàn.  Thế là Nguyên Ngọc mất chức rất êm, rất hợp lý.  Đến lúc chuẩn bị đại hội lần thứ ba của Hội, Nguyên Ngọc chỉ được phân công phụ trách hậu cần, nghĩa là lo việc đi quyên tiền và việc tương cà mắm muối.

            Từ đại hội lần thứ hai đến đại hội lần thứ ba là hai mươi năm. Điều lệ Hội quy định nhiệm kỳ mỗi đại hội là năm năm.  Nhưng điều lệ có là cái gì! Tất cả phải tuân thủ sự chỉ đạo của trên. Họp lúc nào, họp bao nhiêu người, bàn bạc cái gì, ai làm Tổng thư ký đều phải do trên.  Trên chưa sắp đặt xong thì chưa được họp. Có đủ thứ lý do cho việc kéo dài nhiệm kỳ tới hai mươi năm, nào là vì hoàn cảnh chiến tranh, rồi vì tiền nong eo hẹp…

            Trong cái giấc mơ lớn về ngày toàn thắng mà tôi ôm ấp suốt những năm lặn ngụp trong khói lửa chiến đấu, có một giấc mơ con thế này: mình được sống sót, được trở về dự một cuộc đại đoàn viên của giới văn nghệ Việt Nam thống nhất, hoà hợp, bắc nam rừng núi thị thành sum họp, cùng nhau bàn bạc va hoạch định công cuộc phục hưng văn hoá Việt, cái công cuộc đáng lẽ được bắt đầu từ 2 tháng 9 năm 1945 đã phải tạm gác vì hai cuộc kháng chiến trường kỳ.

            Nhưng giấc mơ con ấy vẫn chỉ là giấc mơ cho đến tận giờ.  Làm sao có thể nói đến văn hoá một cách thật sự văn hoá khi mà người ta lấy một chủ nghĩa độc tôn áp đặt lên toàn xã hội và cấm đoán hành hạ những ai có quan điểm khác biệt, đối lập với chủ nghĩa ấy?  Cái hành vi ngu dân đại quy mô kiểu trung cổ này còn kéo dài đến tận bao giờ? Có lẽ nó còn kéo dài chừng nào giới trí thức văn nghệ sĩ còn chưa thấy bức bối ngạt thở vì mất tự do.

            Thời hạn đại hội cứ lần lữa lùi lại. Chỉ thấy có sự bổ sung Ban chấp hành, đưa thêm một số vị thuộc lực lượng Văn nghệ Giải phóng miền Nam, nghĩa là xếp thêm ghế cho giới quan chức văn chương.

            Đúng là Hội của mấy nhà văn. Tôi cũng vỡ nhẽ dần. Tuy vậy, vẫn cứ hy vọng, ngóng chờ.  Thỉnh thoảng một số hội viên gặp nhau thì  thầm bàn tán:

            -Nghe nói sắp đại hội hả?

            -Còn lâu.  Tớ vừa gặp thằng X trên Ban, nó bảo còn “khuất tạp” lắm, trên chưa cho họp đâu.

            -Này, lão T lại vừa đi nước ngoài chuyến thứ một trăm linh…

            -Gớm, đếm kỹ thế cơ à?

            -Chính từ họ cả, họ ấm ức nhòm ngó nhau, rồi theo dõi nhau, rồi tính đếm, rồi xì ra mình mới biết.

            -Năm nay có chuyến đi Tiệp, tớ được vào danh sách rồi, thế mà họ lại gạt ra để cho cái thằng Z chuyên lăng xăng nhắng nhít được đi.

            -Này, cậu có biết  cái chuyện tiếu lâm đời mới này ở sân bay Matxcơva không?  Lão B phải quàng chéo qua người hai cái lốp xe để đỡ phải trả thêm tiền cước, hai tay lại mắc hai xách nặng nên không thể nào bắt tay đồng chí nhà văn nước bạn ra tiễn được.         

            -Chuyện ấy đã thấm gì.  Ông có biết chuyện hai viên đá lửa không?

            Chuyện hai viên đá lửa thật khó tin, nhưng nhiều bạn bè văn chương trong Hội cứ nhất quyết khẳng định với tôi là chuyện thật một trăm phần trăm. Một nhà thơ vào hàng thần thi thời tiền chiến nay là quan lớn văn hoá, năm nào cũng đi nước ngoài dăm ba chuyến. Có một lần sau chuyến đi, ngồi trên xe từ sân bay về, ông hỏi anh lái xe:

            -Cậu có bật lửa không?

            Anh lái xe thầm nghĩ  chuyến này thủ trưởng đi nước tư bản về sẽ rộng rãi hơn trước chứ không keo cú như bấy lâu, chắc định làm quà cho mình chiếc bật lửa, bèn đáp:

            -Dạ, không có.

            -À, tưởng nếu có thì mình cho cậu hai viên đá lửa.

            Đại khái cảnh chờ đợi hội hè cứ trôi đi dài dài trong những câu chuyện như thế.

            Rồi cuối cùng cũng họp.  Mà phải họp đại hội đại biểu,bất chấp nguyện vọng tha thiết của hầu hết hội viên sau ngày thống nhất đất nước là họp toàn thể.  Theo một quy định từ đâu đó bên trên, chẳng biết có văn bản hay chỉ là lệnh miệng, đại hội phải họp đại biểu.

            Các cuộc họp để bầu đại biểu đã gây ra biết bao ấm ức, khó chịu, khó xử.  Rất nhiều hội viên nêu vấn đề: nhà văn thì mỗi người là mỗi người, làm sao ai đại diện cho ai được? Mặc.  Cứ phải bầu đại biểu.  Có một số nhà văn bất bình không tham gia các cuộc bầu cử  đại biểu.

            Lại một chuyện kỳ cục này nữa. Tuy là họp đại biểu, nhưng riêng số người được chỉ định thành đại biểu (ai chỉ định, không rõ) không phải qua bầu cử đã chiếm gần một phần ba. Đó là 43 vị trong Ban chấp hành.  (Toàn bộ đại hội có 150 đại biểu).  Đây là một sự tuỳ tiện về thể thức, một hành vi coi thường hội viên mà hồi đó đa số hội viên còn thờ ơ với các thể thức dân chủ dù còn rất sơ đẳng, nên không mấy ai nhận ra. Mà có ai nhận ra, thì liệu biết làm thế nào để phản kháng?

            Giữa thu 1983, đại hội họp ở Hội trường Ba Đình, nơi thường tiến hành các nghi lễ quốc gia. Các đại biểu ở xa về được bố trí ăn ở tại nhà khách của Hội đồng bộ trưởng số 37 Hùng Vương.  Nhiều người phấn khởi bảo nhau: như thế là đại hội của Hội nhà văn được Trên coi trọng lắm.

            Buổi chiều trước ngày khai mạc đại hội, có cuộc họp riêng các hội viên là đảng viên, do Ban bí thư trung ương Đảng triệu tập.  Đây là một thông lệ, bao giờ cũng họp trong Đảng trước.  Bí thư trung ương Đảng Hoàng Tùng đến dự và phát biểu đầu tiên. Tôi không còn nhớ ông nói những gì, chỉ nhớ một ý chủ yếu được nhấn đi nhấn lại là yêu cầu các đồng chí đảng viên xác định quan điểm lập trường cho vững chắc, giữ thái độ thật đúng đắn, nghiêm túc, đoàn kết để đảm bảo cho đại hội thành công.  Ông nói khoảng hơn ba mươi phút. Tiếp liền đó trưởng ban văn hoá văn nghệ trung ương Hà Xuân Trường phát biểu khoảng mười lăm phút, cũng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xác định thái độ.  Phát biểu xong, ông Hà Xuân Trường liền hỏi hội nghị:”Có đồng chí nào có ý kiến gì không?”.  Mới được khoảng hai phút, mọi người còn đang suy nghĩ trong yên lặng, thì ông đã vội nói:”Không đồng chí nào có ý kiến gì, vậy chúng ta giải tán”.  Thật đột ngột.  Mọi người đứng dậy bước ra. Ít ai ngờ cuộc hội nghị đảng viên hội viên trước đại hội lại diễn ra theo kiểu như vậy.  Nó giống một cuộc phổ biến chỉ thị ở chi bộ đại đội.  Hai mươi năm mới có một cuộc đại hội, một cuộc sinh hoạt không những chỉ hệ trọng đối với bản thân Hội mà quan hệ tới cả nền văn học của đất nước, biết bao nhiêu điều các nhà văn cần nói, biết bao nhiêu điều những người lãnh đạo cần nghe và phải nghe, những điều khó nói ra trước công luận (theo nề nếp hồi đó), thì có thể và cần phải được nói hết trong nội bộ Đảng một cách thẳng thắn, cởi mở, đặc biệt là những vấn đề về quan điểm, về lãnh đạo, quản lý văn nghệ và cả những vấn đề về nhân cách những người lãnh đạo Hội nữa. Thế nhưng điều trông đợi chính đáng ròng rã hai mươi năm đó đã bị sổ tuột cái rẹt.  Tôi thấy rất rõ là cuộc hội nghị các hội viên đảng viên được tổ chức chỉ là để siết chặt lại sợi dây trói đã bị lỏng ra với vụ Đề dẫn, các đảng viên được mời tới là để nghe huấn thị chứ không phải để thảo luận, để “hiến kế “ cho lãnh đạo, tuy cũng có cái câu hỏi gượng gạo chiếu lệ :”Có đồng chí nào có ý kiến gì không ?”

            Buổi tối có cuộc hội nghị toàn thể các đại biểu đại hội để thảo luận trước danh sách để cử ứng cử viên ban chấp hành mới. Ban trù bị đưa ra một danh sách do BCH cũ giới thiệu.  Rồi các đại biểu giới thiệu thêm.  Mọi việc đều trơn tru.  Chỉ có một chút gay cấn nhẹ là khi giáo sư Hoàng Xuân Nhị nêu vấn đề những phiếu không bầu đủ số lượng uỷ viên chấp hành như quy định có hợp lệ hay không.  Ông Hà Xuân Trường đã tỏ thái độ thiếu lịch sự với giáo sư Nhị, bị nhà văn Cao Tiến Lê phản đối.  Ông Hà Xuân Trường đã xin lỗi giáo sư.

            Ngày hôm sau, đại hội họp chính thức. Sau báo cáo chính, là báo cáo bổ sung về văn xuôi, về thơ.v.v. Các tham luận đều được viết sẵn gửi cho đoàn chủ tịch xem trước.  Rồi bầu cử. Phiếu bầu in ronéo, trong đó danh sách đề cử viên được in làm hai khối, nửa trang trên gồm những tên do BCH cũ giới thiệu.  Một số người trong BCH mới kể lại với tôi, việc bầu Ban thư ký và Tổng thư ký diễn ra như sau: trong cuộc họp đầu tiên của BCH mới, một đại diện cấp trên nêu danh sách những người mà Trên gợi ý nên là Tổng thư ký và uỷ viên thư ký, nghe xong mọi người giơ tay,và như thế Ban thư ký, Tổng thư ký đã được bầu ra với sự “nhất trí cao”.

            Nguyên Ngọc chỉ trúng vào BCH, không được cấp trên cho vào Ban thư ký.

            Mọi sự trúng phóc với sự sắp đặt từ trước.  Bản thân những người dự đại hội cầm lá phiếu bầu (trong đó có người  viết những dòng này) trong nhận thức cũng mặc nhiên thừa nhận sự sắp đặt ấy như một thứ luật lệ bất thành văn không thể cưỡng lại, không dám cưỡng lại.  Nghĩ lại mà thấy xấu hổ về ý thức dân chủ của mình.

            Buổi bế mạc, nhà văn Nguyễn Đình Thi, người vừa được “bầu” lại làm Tổng thư ký tỏ ra rất xúc động và mừng rỡ.  Niềm xúc động ấy khiến ông khi thay mặt BCH mới được “bầu” phát biểu trước đại hội, thốt lên một câu nổi tiếng:”Chúng ta, những nhà văn, chúng ta chỉ là những hạt bụi, nhưng là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”.

            Hôm sau, tình cờ tôi gặp nhà sử học Trần Quốc Vượng, ông Vượng cứ nhìn tôi bằng cặp mắt như thể tôi là ông Nguyễn Đình Thi, và lắc đầu tặc lưỡi mà bảo:”Nhà văn các ông… hừ… Việc gì phải thế nhỉ?…”

            Một anh bạn tôi bên ngành giáo dục, nhà ở gần chợ Bắc Qua, kể với tôi rằng, có một cô buôn gà thường ghé sang nhà anh xem ti vi nhờ, tối qua theo dõi màn hình tường thuật buổi bế mạc đại hội nhà văn, khi nghe xong ông Nguyễn Đình Thi hùng hồn tuyên bố câu ấy đã hồn nhiên bật ra một lời bình phẩm:”Gớm, cậu đéo lào lịnh thế?’’.(Xin phép bạn đọc, tôi phải ghi nguyên xi thế mới giữ trọn được cái khí lực ngôn tữ đặc biệt của nhà bình luận dân gian)…

 

                                                                               Đà Lạt, tháng 5 năm 1994

           

 

 

            Nhân vụ Đề dẫn, xin ngược thời gian kể về một vụ đánh trói trong làng văn thời kháng chiến chống Mỹ ở rừng căn cứ Khu 5:

 

                        TÔI ĐÃ BỊ NGUYÊN NGỌC ĐÁNH NHƯ THẾ NÀO?

 

            Tháng 5 năm 1970, chiến tranh đang cực kỳ ác liệt, tôi về Kỳ Thịnh, một xã vùng ven thị xã Tam Kỳ.  Muốn về tới Kỳ Thịnh, phải vượt qua hai con đường lớn được canh phòng cẩn mật và hàng chục đồn bót của địch, chưa kể những ổ phục kích bất ngờ.  Tôi phải chờ hai ngày trên ranh núi Kỳ Ngọc.  Đêm thứ ba theo giao liên đột xuống, vừa vượt qua đường thì bị phục kích, may thoát chết, phải quay lại.  Đêm thứ tư thì xuống lọt.  Nhưng cũng bị xe tăng chốt ở rừng Rang nã đại liên xối xả, chạy muốn đứt hơi.

            Gần nửa đêm về tới Kỳ Thịnh, vừa bước vào hầm nhà một cán bộ thôn thì nghe tin dữ: hồi chiều, thằng L huyện uỷ viên trưởng ban an ninh huyện mới đi chiêu hồi.  Tất cả mọi người đều đang ở trong tư thế sẵn sàng chống càn, bởi sợ thằng L khai báo, địch sẽ càn quét đánh phá tất cả những nơi mà hắn biết.

            Uống xong tộ nước chè khô thì may được gặp anh Sum bí thư và anh Tư ủy viên thường vụ huyện ủy.  Các anh đang trên đường lên tỉnh họp gấp, ghé qua đây.  Anh Sum người gầy gầy, dáng thư sinh.  Anh Tư mập lùn, chắc nịch nhưng lanh lẹ, nước da ngăm đen, một cán bộ mà trước đó tôi đã được nghe nói là rất gan dạ, xông xáo.  Ngoài khẩu súng ngắn và dây lựu đạn quanh thắt lưng, anh còn mang một khẩu AK với bốn băng đạn.  Các anh bắt tay tôi thật chặt, hỏi han công việc, rồi dặn dò mấy cán bộ sẽ giúp đỡ tôi, và tiếp tục ra đi trong đêm.  Sáng sớm hôm sau, tôi nghe tin các anh bị phục kích ở chính cái điểm mà tôi đã vượt đường hôm trước từ trên núi xuống. Nghe nói anh Sum bị thương, anh Tư hy sinh.

            Ngày nào, đêm nào cũng có ngươi chết. Không mấy ngày là không có kẻ đi đầu hàng.

            Tôi theo anh  Tín cán bộ tuyên huấn xã về ở nhà ông già Lịnh.

            Ông già Lịnh người thấp nhỏ nhưng rắn rỏi, queo quánh, dù đã ngoài bảy mươi.  Đêm sáng trăng, ông đánh bò đi cày-“Tranh thủ ban đêm trời mát, ít máy bay, ít pháo” – ông bảo thế và dong bò đi, sau khi bỗ hết một tộ khoai chà và uống đầy một bụng cái thứ nước chè khô nấu đặc quánh.  Xin nói thêm, khoai chà là thứ khoai lang luộc đem chà trong rổ rớt xuống thành hạt nhỏ rồi phơi khô, món lương khô quen thuộc lâu đời của nông dân Quảng Nam.  Tôi  kinh ngạc về sức khỏe lạ lùng của ông già ấy.  Có hôm ông cày hết đêm rồi cày luôn cả ngày ngoài đồng đến chiều mới về, chỉ cần thằng cháu nội đem tiếp tế khoai chà, sắn luộc và nước chè.  Gặp tàu rọ- một thứ máy bay trực thăng rất cơ động nom trống rỗng như cái rọ heo – ông ung dung dừng lại cho thằng  Mỹ ở trong bước ra nắm râu ông coi râu thật hay râu giả.  Biết chắc là râu thật, một ông già thật chứ không phải một du kích cải trang, nó bay đi, ông lại cày tiếp.  Cũng không ít lần bọn tàu rọ bắn dọa (hoặc đùa giỡn giải khuây), đạn đại liên găm sục đất quanh chân ông và con bò, ông vẫn bình tĩnh đứng  yên.  Chính từ mảnh đất ấy, trong bom đạn tùm lum tối ngày, bất chấp hiểm nguy nhọc nhằn, bao nhiêu vụ khoai cùng lúa sạ vẫn được những người như ông gieo trồng đều đều lấy củ lấy hạt nuôi chúng tôi, những du kích, cán bộ, bộ đội quê ở đấy hoặc ở bất  cứ từ đâu đến.

            Ông già Lịnh còn nuôi cô Sáu Xuân, cán bộ binh vận xã, bị thương cụt chân đang còn băng bó.  Mỗi khi có địch càn, nếu tình thế không thể hợp pháp trên mặt đất được, đích thân ông đưa cô Sáu xuống hầm bí mật, đích thân ông ngụy trang nắp hầm.

            Những ngày ở nhà ông già Lịnh, tôi đã suy ngẫm về ông và về vụ thằng L đi đầu hàng.  Tôi làm hai bài thơ, kê sổ tay lên đùi mà viết ngay trong căn hầm tránh pháo vừa là nhà của ông.  Đó là bài” Buổi chiều , con bò kêu ngoài đồng... “  và bài” Ở đây, ngày hôm qua...” Bài trước là hình ảnh ông già Lịnh cùng con bò thân yêu của ông đi cày trên đồng, giữa bom pháo. Bài sau nói về vụ thằng L đi đầu hàng.  Xin ghi lại đây nguyên văn bài này, vì nó ngắn, và vì chính nó là bài bị Nguyên Ngọc đánh chí tử.

                        Ở đây, ngày hôm qua

                        vừa có kẻ đầu hàng, phản bội

                        hắn là huyện ủy viên

                        không ai ngạc nhiên

                        cuộc chiến đấu đang giữa hồi quyết liệt

                        những thử thách không chừa ai hết

                        thước đo lòng trung thành

                        không dài hơn cho tôi hoặc ngắn bớt cho anh.

            Khi trở về căn cứ trên núi, tôi đưa hai bài thơ trên góp vào tạp chí Văn nghệ Giải phóng trung Trung bộ.  Chỉ có bài” Buổi chiều, con bò kêu ngoài đồng...” được đăng.  Bài kia bị gạt, không lý do.  Tôi đành chỉ chuyền tay trong anh chị em đồng nghiệp.

            Ba năm sau, mùa xuân năm 1973, cơ quan văn nghệ khu 5 (tức khu trung Trung bộ) tổ chức học nghị quyết mới của Đảng và trao đổi ý kiến về vấn đề phản ánh hiện thực cuộc chiến đấu mới sau khi có hiệp định Paris.  Ý kiến của hầu hết anh chị em là cần phải phản ánh hiện thực một cách toàn diện, cả mặt sáng và mặt tối, mặt phải và mặt trái, bề rộng và bề sâu, cả toàn cảnh xã hội lẫn số phận cá nhân.  Từ quan điểm chung ấy, trong không khí thảo luận cởi mở, tôi lại đưa bài thơ Ở đây, ngày hôm qua...”  không được đăng đề nghị mọi người phân tích đánh giá đúng sai.  Một số ít người ủng hộ. Một số im lặng.  Nhiều người phê phán, nhất là sau khi có ý kiến phê phán rất gay gắt của nhà văn Nguyên Ngọc,  chủ tịch hội Văn nghệ Giải phóng trung Trung bộ, người chủ trì cuộc thảo luận.  Trước đó, ông Vương Linh, bí thư Đảng đoàn văn nghệ khu 5 cùng nhà văn  Nguyên Ngọc ủy viên thường vụ Đảng đoàn đã triệu tập riêng các đảng viên (trừ tôi, mặc dù lúc ấy tôi đang là chi ủy viên) để chuẩn bị cho cuộc thảo luận, được xác định trong nội bộ là một cuộc đấu tranh chống những quan điểm lệch lạc nguy hại, mà đối tượng tập trung là tôi.  Cuộc đấu tranh thật căng thẳng, vì tôi khăng khăng giữ quan điểm của mình, một vài anh em cũng cứng cỏi ủng hộ tôi.  Với những người im lặng, Nguyên Ngọc đều buộc họ phải phát biểu.  Cực chẳng đã, có người nói chung chung, có người nói nước đôi một cách khéo léo.  Kết thúc hội nghị, Nguyên Ngọc kết luận bài thơ của tôi là một biểu hiện lệch lạc nghiêm trọng về quan điểm, dao động nghiêm trọng về ý chí, đây là một tình hình nguy hiểm đáng báo động, tác giả cần coi chừng.

            Tôi vẫn nhớ như  in hai tiếng coi chừng với cái giọng rất căng của Nguyên Ngọc, đồng thời cũng nhớ như  in cái cảm giác của mình lúc đó là hơi ngỡ ngàng trước một điều gì đó là lạ, khó hiểu, cái cảm giác ấy tiếp tục thúc đẩy  tôi những ngày sau buộc phải cố khám phá xem ẩn ý gì chứa đựng đằng sau hai tiếng đó.

            Ông Lê Sâm,khu ủy viên,trưởng ban tuyên huấn Khu 5 cũng đến dự hội nghị này hầu như suốt các buổi để trực tiếp thị sát cuộc đấu tranh.Ông Vương Linh kêu lên với ông Lê Sâm :

            -Trời! Y như Nhân Văn, thưa anh...

            Ông Lê Sâm hỏi tôi, như kiểu thẩm vấn:

            -Anh Quốc, anh viết như thế nghĩa là anh ám chỉ lúc nào đó ủy viên Bộ chính trị cũng có thể đi đầu hàng, phải không?

            Tôi không dám đáp lời giữa cái không khí đầy vẻ đấu tố dữ dằn ấy, nhưng bụng nghĩ đến những cán bộ cao cấp tiền bối đã đầu hàng như Lâm Đức Thụ, Ngô Đức Trì... Sau này, khi nghe tin ủy viên Bộ chính trị Hoàng Văn Hoan bỏ chạy theo giặc và bị kết án tử hình, tôi lại nhớ tới câu hỏi trên của ông Lê Sâm.Tôi nghĩ,khi hỏi tôi câu ấy,thực ra ông Lê Sâm còn am hiểu gấp mấy tôi cái mặt trái rác rưởi của nội bộ Đảng,nhưng ông không muốn chúng tôi biết tới,và nếu có biết phần nào thì chũng không được phép đưa vào văn chương.Tôi cũng nhớ lại lời Phan Tứ kể rằng ông Tố Hữu dặn anh nếu có đụng đến cái tiêu cực thì chỉ nên nói từ cấp xã trở xuống thôi.Rõ ràng đó là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong lãnh đạo văn nghệ lúc ấy(và còn dai dẳng nhiều năm sau),thế nên Nguyên Ngọc dù cho trong thâm tâm có nghĩ khác cũng không thể làm khác,vì anh không chỉ là một nhà văn mà còn là một cán bộ lãnh đạo.Tôi tin chắc tác giả Mạch nước ngầm lúc ấy nghĩ khác.

            Ít tháng sau, nhân một cuộc học nghị quyết mới nữa, vấn đề phản ánh hiện thực như thế nào lại được anh em văn nghệ đặt lại và tiếp tục thảo luận.  Nguyên Ngọc cho rằng hiện thực bao trùm nhất,đáng quan tâm nhất,là chủ nghĩa anh hùng cách mạng,và nhà văn muốn sáng tác có chất lượng thì điều tiên quyết là phải nhận ra cho được diện mạo người anh hùng,nhân vật trung tâm của văn học cách mạng.Anh còn nhấn mạnh thêm:khi nhà văn dao động thì trước hết là dao động về chính nhân vật trung tâm của mình Tôi và Cao Duy Thảo nêu ý kiến:cần phải biểu hiện người anh hùng trong cả cái cao cả lẫn cái thấp hèn, và phẩm chất anh hùng chính là ở   chỗ họ vượt lên được cái tầm thường,cái thấp hèn  còn ẩn kín trong bản thân họ.

     Nhà văn Nguyên Ngọc phê phán nghiêm khắc quan điểm của chúng tôi,và khi kết luận hội nghị,anh khẳng định rành rọt :

     -Đối với nhà văn cách mạng,nếu trên gương mặt người anh hùng của chúng ta có một vết nhọ,chúng ta cũng phải chùi đi cho họ.

     Tôi và Cao Duy Thảo chỉ còn biết nhìn nhau khẽ lắc đầu chẳng biết nói sao.

     Một vài cán bộ lãnh đạo coi tôi như kẻ sẵn sàng đi đầu hàng địch. Điều này rất lâu về sau tôi mới biết.Năm 1980,khi đã chuyển về tạp chí VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI,trong một lần tâm sự ôn lại chuyện cũ,nhà văn Nguyễn  Chí Trung(nguyên ủy viên thường vụ Đảng đoàn văn nghệ khu 5) tiết lộ với tôi: sau chuyện đó,có lần ông Lê Sâm rỉ tai mình rằng nhiều dêm ông ấy ngủ không yên vì sợ thằng Quốc quăng lựu đạn vào võng.Tôi bàng hoàng vỡ nhẽ.Hoá ra,từ sự khác nhau về quan điểm văn nghệ đã có thể dẫn tới sự nghi ngờ nhau về chính trị dễ sợ tới mức ấy ! Và bây giờ tôi mới hiểu hết ẩn ý đằng sau hai tiếng coi chừng mà Nguyên Ngọc nhấn mạnh với tôi dạo nào.

            Đầu năm 1974, Nguyên Ngọc ra Bắc chữa bệnh và nghỉ ngơi.Sau này tôi cũng được biết,ở miền Bắc, trong các buổi được mời đi nói chuyện về văn nghệ Khu 5 chống Mỹ,Nguyên Ngọc luôn bảo vệ tôi, trực tiếp hoặc gián tiếp, trước ý kiến những ai đó, nhất là từ phía lãnh đạo, tỏ ra nghi ngờ về lập trường, quan điểm, ý chí của tôi. Điều tin chắc trước kia của tôi đã được minh chứng, việc anh phê phán tôi là do lúc ấy,trong cương vị của mình anh buộc phải áp  đặt quan điểm chính thống cho anh em để giữ trật tự, kỷ cương”.

            Cuối năm 1975, ở Đà Nẵng, nhân một cuộc chuyện trò về nghề nghiệp, đề cập đến tính phức tạp của hiện thực, Nguyên Ngọc kể với tôi về những điều tầm thường, thậm chí ti tiện của một số cán bộ cao cấp mới từ trong khói lửa chiến đấu ở miền Nam ra cùng đi dưỡng bệnh với anh ở CHDC Đức.Tuy không nhắc lại vụ bài thơ “Ở đây, ngày hôm qua...”, nhưng tôi cảm thấy dường như đấy là một cách anh bóng gió thông báo vơi tôi những suy nghĩ thực  của anh.

            Những suy nghĩ  này về sau đã được thể hiện một phần trong bản  Đề cương đề dẫn (gọi tắt là Đề dẫn) mà anh là người chủ trì soạn thảo cùng các ủy viên khác trong Đảng đoàn Hội nhà văn VN, và với cương vị bí thư  Đảng đoàn chính anh đã công bố trong hội nghị đảng viên hội viên họp tại Hà Nội tháng 6 năm 1979.

            Tại Hội nghị này, bản Đề dẫn đã được đa số ý kiến nhiệt liệt tán thành nhưng đã bị nhà thơ Tố Hữu, lúc đó là ủy viên Bộ Chính Trị , trưởng ban tuyên huấn trung ưong đập cho tơi tả.

            Kết thúc hội nghị, Nguyên Ngọc vẫn gan góc kết luận: hội nghị căn bản nhất trí với Đề dẫn, đồng thời thấy cần  nghiêm túc nghiên cứu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tố Hữu,như.tôi đã kể ở  phần trên.

            Nhân tiện,xin kể thêm,cũng trong hội nghị này, nhà thơ ủy viên Bộ chính trị Tố Hữu còn nói một câu mà tôi rất nhớ, đại ý: trong nghệ thuật,hoc thuật không có tiếng nói cuối cùng.

                                                                            Đà Lạt tháng 6.1994

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                           

 

ĐÊM CHONG ĐÈN NGỒI NGHĨ …

 

 

 

           

                                                I

 

            Hoàng hôn chầm chậm xuống .

            Giờ này là giờ người nữ công nhân nghèo từ xưởng về đến căn nhà lụp xụp , mệt mỏi , đờ đẫn , gắng sức bắt tay vào công việc bếp núc giữa đàn con đói đang hau háu chờ bữa cơm chiều kham khổ .

            Giờ này là giờ các cô điếm vườn , điếm chợ ra đứng đường , các cô điếm trung cấp, cao cấp ngồi trong phòng khách sạn hoặc biệt thự , chờ khách.

            Giờ này là giờ các nhà hàng bắt đầu nhộn nhịp . Khách khứa tấp nập đua nhau tới, đông đảo và khí thế nhất vẫn là các vị đầy tớ lớn nhỏ của nhân dân . Ông đại tá đặc công già từng lập chiến công diệt sĩ quan Mỹ nguỵ chính tại cái nhà hàng giờ đây ông đang ngồi trước cửa với mấy xấp vé số , cố nhẫn nại ngồi , hy vọng bán thêm được vài tấm. Các đầy tớ nhân dân bước xuống khỏi những chiếc xe con đời mới , sập cửa một cách oai vệ , bước qua mặt người anh hùng tiền bối từng bước khệnh khạng dửng dưng , cả hồn lẫn xác đã bị hút trọn về phía trong kia , phía ánh đèn muôn màu rực rỡ ,bao nhiêu của ngon vật lạ , chín và sống ngồn ngộn đang chờ .

            Giờ này, trong các dinh thự xưa kia chỉ dành cho vua chúa , toàn quyền , tổng thống ,các vị đày tớ nhân dân cỡ cực lớn sau một ngày “ bận trăm công ngàn việc vì dân vì nước “ , các vị đang nghĩ gì ?

            Giờ này , trong các ngục tù, ngoài những kẻ đáng tội , còn có bao con người bị giam hãm đọa đày chỉ vì họ kiên quyết bảo vệ chân lý ? Họ đang ra sao ? Nhiều phần chắc là họ đang bị hành hạ .

            Giờ này , tôi lăng lẽ chong lên ngọn đèn nhỏ của trái tim mình ,

            Hồi nào nhỉ , đã xa lắm rồi mà sao ngỡ như mới đây thôi , tôi cất tiếng hát từ lồng ngực trẻ ,tự tiếp sức cho mỗi bước hành quân nặng nhọc mà thư thái vượt Trường Sơn :

                        Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình “ *

            Với lửa ấy , tôi đã đi , đã đi , vực sâu , đèo cao , dốc hiểm , dặm này qua dặm khác ,cố mau tới chiến trường!

            Vẫn với lửa ấy , tôi chong lên ngọn đèn nhỏ này, mỗi khi đêm xuống . Trang giấy trắng , trắng rợn dưới ánh đèn .

            Viết gì đây ? 

            Viết gì đây ?

            Đêm Đà Lạt yên tĩnh lạ lùng . Nhưng sao có tiếng gì như tiếng xe ủi ? Tôi đang ngồi đây , trong đêm Đà Lạt thanh bình, chứ đâu phải ở Quảng Nam , những năm nào ? Chả lẽ cái tiếng xe ủi Mỹ ngày đêm ủi trốc cả một giải Điện Bàn , Hoà Vang, Duy Xuyên , Thăng Bình … những năm nào vẫn cứ đeo bám mà cày mãi lên hồn tôi đến tận giờ ? Cây cối, nhà cửa , hầm hào bị cày xốc lên , bị nghiền nát , chúng nó cày, chúng nó nghiến nốt những gì mà bom pháo chưa thể đánh trốc hết , cày một lần chưa được chúng nó cày lần nữa , lần nữa . Gò Nổi bị cày đi cày lại tới 18 lần , cả một vùng mênh mông đỏ loét , mặt đất như bị lột da . Chúng nó cày cho dân không còn từ căn hầm đến cái chén mẻ , cái xoong móp để mà sống, để mà trụ lại, dân không trụ lại được thì du kích , chi bộ mất chỗ dựa lưng , tê liệt cả tai mắt . Từng bầy trực thăng đáp xuống ,lính Mỹ , Nam Triều Tiên a vào xốc nách từng người dân quẳng lên máy bay chở đi đổ vào các khu dồn vây kín hai ba vòng rào thép gai . Chúng nó “ xúc “ dân như thế đấy , để làm ta mất dân . Nhưng dân vẫn trốn về đất cũ , bới lượm từng mẩu gỗ , từng thanh sắt , cặm cụi dựng lại hầm , kiên trì trụ bám . Tôi nhớ những cuộc giao ban hàng ngày ở Đặc khu uỷ Quảng Đà , những câu hỏi đáp đầy hồi hộp : “ Hôm nay Gò Nổi còn bao nhiêu dân ? Mấy gia đình ? Bao nhiêu người mới ở khu dồn trốn về ? Còn được bao nhiêu con bò ? Dưới An Nông ( Hoà Hải – Hoà Vang ,sát nách Đà Nẵng ) , ông già Lộ vẫn trụ nguyên chứ ? – Vẫn trụ nguyên , ông già Lộ vẫn trụ nguyên . Con bò của ông – con bò độc nhất còn lại của cả làng , vẫn đi cày cho bà con lối xóm . Ông già Lộ nhắn rằng : mấy chú tỉnh uỷ cứ yên chí , pháo Mỹ nó chưa lượm được tui thì tui còn trụ bám …” Ở Điện Bàn , tôi nhớ có nơi chi bộ đảng hy sinh hết , một cô du kích trẻ đã giả làm đảng viên viết thư vào khu dồn móc nối cơ sở vận động bà con trở về . Và bà con đã nghe theo thư ấy mà trở về . Ôi , lòng dân với Đảng ! Năm 1976 ,hướng tới đại hội Đảng lần thứ tư , tôi đã viết trong một bài tuỳ bút đăng trên báo Nhân Dân :” Thật hạnh phúc cho Đảng ta đã có một nhân dân như nhân dân ta và cũng thật hạnh phúc cho  nhân dân ta đã có một Đảng như Đảng ta “ .

            Tiếng xe ủi vẫn rít lên , gằn gọc , ngổ ngáo , hối hả , lì lợm .

            À , tôi nhận ra rồi . Đó là tiếng xe ủi từ phía Đồi Cù vọng lại . Người ta đang ủi Đồi Cù để làm sân gôn .

            Đà Lạt mù mịt bụi ngày nắng và nhầy nhụa bùn ngày mưa vì Đồi  Cù bị ủi . Đà Lạt xinh đẹp , tao nhã , thanh lịch có một không hai đang như một hòn ngọc bị ngâu vầy .

            Tôi đã yêu Đà Lạt ngay từ phút đầu gặp gỡ . Khi chiếc xe đò cà tàng đưa tôi trong chuyến phiêu lãng nhớm những vòng bánh ậm ạch bò lên đèo Prenn ,một cảm giác lạ lùng chưa từng nếm trải lập tức xâm chiếm lấy tôi . Tòan thân được ôm trùm bởi cái khoáng đãng dìu dịu của non cao ôn đới , tầm mắt cuốn hút theo những bóng thông thẳng vút giăng giăng bên đường vừa thân mật vừa uy nghi , và trên tất cả là vòm trời xanh thật xanh , gần thật gần , ngỡ đưa tay là với được một áng mây ngần trắng như  chiếc khăn của nàng tiên nào vừa đánh rơi lờ lững bay ngang . Ngỡ mình đang đặt chân tới xứ sở của trời cao , của thanh cao . Vào lúc xe tới đỉnh đèo thì cảm thấy như có một cánh cửa chợt bừng mở . Và, ô kìa , trong ánh vàng mơ của nắng trưa hanh nhuốm mờ sương khói , đột ngột hiện ra một mảng yêu kiều của thành phố với những ngôi nhà mọc lô nhô chấp choá giữa nền xanh cây cối , trùng điệp lớp lớp từ lũng lên đồi ,nổi bật trên quần thể kiến trúc sinh động ấy là ngọn tháp trầm tư của ngôi nhà thờ cũ . Về sau , khi đã sống hẳn với Đà Lạt , thành phố đã trở nên xiết bao quen thuộc , nhưng mỗi lần đi đâu về tôi vẫn luôn sống lại tươi nguyên cái giây phút ban đầu ấy ở đỉnh đèo cửa ngõ thành phố , cái giây phút tôi tưởng mình là chú bé trong cổ tích gặp tiên – sau cái khoát tay mầu nhiệm của bà tiên , một thế giới huyền diệu bỗng hiện ra , những tòa lâu đài bí ẩn nằm giữa rừng thông thanh sạch , ở đó có những nàng tiên tuyệt sắc , hoặc cũng có thể có cả mụ phù thuỷ với bầy quỷ lùn …

            Không biết có quá đáng không khi nói rằng cái đẹp của Đà Lạt làm bất lực mọi ngôn từ . Nhưng quả thật , tôi chỉ còn biết lặng người cho tâm hồn run rẩy mở ra đón nhận và nâng niu vẻ đẹp ấy trong cõi sâu thẳm của riêng mình . Không nâng niu sao được , những lối mòn khiêm nhường lẩn khuất đưa ta qua thung lũng , ở đó có những ngôi nhà gỗ nhỏ nghèo nàn kề bên các vạt ruộng rau cải soong ngồn ngộn , quanh nhà nào cũng là một bờ rào tường vi , mấy đoá tường vi hồng hồng sẽ tặng ta nụ cười chúm chím hồn nhiên , kín đáo và hoang dại , không dưng mà nhớ tới cô láng giềng thời niên thiếu của mình, lòng khẽ ngân thầm câu hát đượm buồn :” đưa tay buồn hái bông hồng tường vi …” . Không nâng niu sao được, một thắng cảnh Đồi Cù bên hồ Xuân Hương , độc đáo không đâu có , cả một miền đồi mườn mượt cỏ lác đác bóng thông , bất cứ chỗ nào cũng có thể ngả lưng trên nệm cỏ rất êm va rất dịu mà tận hưởng thiên nhiên.Không nâng niu sao được những rừng thông bạt ngàn,cái nôi xanh tuyệt vời của thành phố – một thành phố rừng,thành phố vườn ,thành phố hoa , một công viên thiên tạo và nhân tạo khổng lồ trong đó mỗi ngôi nhà đều được vây phủ bởi cây và hoa , mỗi bước đi của con người đều nhận được thông điệp vĩnh hằng về cái đẹp và điều thiện . Tôi cứ nghĩ , liệu có quá ngây thơ chăng , ở một chốn như chốn này , người ta không thể nghĩ , không thể làm một điều gì xấu , một điều gì ác . Vâng , chả lẽ lại có thể nghĩ những điều tầm thường ,mưu toan những việc ti tiện hiểm ác trước nhành mi-mô-da sắc vàng cao quý kia , trước những đoá hồng những nhành phong lan địa lan muôn hương ngàn sắc trinh khiết kia ?

            Hoá ra tôi ngây thơ thật .

            Một hôm, có cô sinh viên quen , tới kể với tôi câu chuyện này . Cạnh nhà cô là một ngôi biệt thự sang trọng , vườn trồng những cây sa mu thật đẹp . Mỗi khi ngồi đọc sách sau cửa sổ nhà mình , cô không thể không thỉnh thoảng ngẩng lên nhìn qua bên kia hàng rào ngắm không biết chán những cây sa mu tuyệt mỹ chắc đã được trồng từ lâu lắm . Chủ nhà là một ông già đáng kính , ngoài bảy mươi vẫn ham gánh  vác công việc nhà nước . Gần đây , ngôi nhà được nhà nước trả cho chủ cũ . Ông cụ được cấp một ngôi biệt thự khác cũng sang trọng không kém , nhưng ông không ưng bằng ngôi biệt thự đang ở . Khi chẳng còn cách nào để không phải chuyển đi , ông cụ đã chặt hết những cây sa mu trong vườn .

Một cụôc hành quyết , chú ạ , cháu phải gọi đó là một cuộc hành quyết , hành quyết thiên nhiên , hành quyết cái đẹp .” – cô bé sinh viên mặt tái nhợt , môi run bần bật ,mắt mở to nhìn thẳng vào tôi – “ Mà chú có biết ông cụ chặt cây để làm gì không ? Chẳng để làm gì cả !…  Cặp mắt trong trẻo của cô ứa lệ – “ Thật không thể nào chịu nổi . Bởi vì ông cụ vốn là người cháu kính trọng ,ngày ngày vẫn thấy xe con đưa đón ông đi làm , có lần ông đã vào trường cháu nói rất hay cho chúng cháu nghe về xây dựng nếp sống mới , con người mới xã hội chủ nghĩa . Cháu thật không hiểu nổi , chỉ có tàn tật bệnh hoạn đến thế nào về tinh thần mới đang tâm chặt hạ những cây sa mu đẹp như thế …”

            E rằng cô sinh viên trẻ vì con tim dễ thổn thức có thể nói quá lên chăng , tôi tìm gặp một quan chức vai vế trong ngành xây dựng và quản lý nhà đất tỉnh , hỏi lại ,thì ông này xác minh ngay sự việc quả đúng như vậy , và còn cho biết thêm : chính ông đã nhận được đơn kiện của người chủ cũ có kèm theo các bức ảnh chụp cái cảnh những cây sa mu bị thảm sát .

            Thân phận mấy cây sa mu mảnh mai trong vườn biệt thự còn thế, huống chi là những cánh rừng béo bở . Từng cánh rừng bạt ngàn , kể cả rừng cấm quốc gia , đã bị thảm sát . Báo chí đã bao lần lên tiếng kêu cứu cho những cánh rừng không biết nói .

            Tại cuộc họp Quốc hội giữa năm 1993 , tổng bí thư Đỗ Mười trong giờ giải lao đã nhắc nhở chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng về tình trạng phá rừng ở Đà Lạt được phản ánh bóng gió qua một bài thơ đăng trên tuần báo Văn nghệ . Có lẽ đây là lần đầu tiên thảm trạng phá rừng ở Đà Lạt – Lâm Đồng được người có trách nhiệm và quyền hạn cao nhất nước nêu ra tại một cuộc sinh hoạt quốc gia quan trọng . Thế cũng mừng lắm cho những cây rừng chưa bị hạ , dẫu số phận của chúng chỉ mới được nhắc tới ở hành lang Quốc hội .

            Thực ra , tiếng kêu báo động , không bóng gió , không úp mở về cuộc tấn công của lưỡi rìu thiển cận và tham lam vô độ vào môi trường sinh thái , môi trường thẩm mỹ của Đà Lạt đã cất lên từ rất sớm , ngay tại đất này . Trong hội nghị chuyên đề về lâm nghiệp do Ban thường vụ tỉnh uỷ Lâm Đồng chủ trì ngày 11-12/11.1977 , cách đây 17 năm ,phó bí thư tỉnh uỷ Đỗ Quang Thắng ( nay là uỷ viên Bộ chính trị ,bí thư trung uơng Đảng , chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra trung ương Đảng ) đã phát biểu :” Tại sao những năm gần đây ở Đơn Dương , Đức Trọng lại hạn hán như vậy ? Câu trả lời khá rõ : chính những nơi đó rừng chưa được bảo vệ tốt” – Báo Lâm Đồng , cơ quan ngôn luận của tỉnh đảng bộ tường thuật như vậy . Cũng chính trên báo này năm ấy đã có bài vạch rõ : mỗi năm trung bình 7.000 ha rừng bị chặt hạ ,3.000 ha rừng được trồng ( ấy là nếu trồng thật chứ không phải trồng trong báo cáo , may lắm cũng sống được 300 ha ) , cứ cái đà ấy thì đến năm hai ngàn lẻ năm cả vùng nam Tây nguyên sẽ hoàn thành quá trình sa mạc hoá bởi bàn tay con nguời . Một anh bạn nguyên là thư ký toà soạn báo Lâm Đồng hồi đó , về sau kể lại với tôi : vì lên tiếng báo động về số phận của rừng như vậy mà số phận của Ban biên tập báo thật cay đắng . Người đứng đầu tỉnh giáng cho một chuỳ nẩy đom đóm  mắt :”Ai cho phép các anh dội nước lạnh vào nghị quyết lâm nghiệp của tỉnh uỷ “ Anh bạn còn cho biết , cái ông quyền cao thế cả nhất tỉnh ấy cũng chính là tác giả của chủ trương nổi tiếng : cuốc Đồi Cù lên trồng sắn . May mà mới cuốc được mấy rẻo dưới chân đồi thì phải ngưng lại vì dư luận phản ứng mạnh .

            Lại nhớ đến “những cây thông kêu “ của Thanh Thảo . Đầu mùa hè năm 1987 Thanh Thảo lãng du tới Đà Lạt , ghé chơi Ban vận động thành lập Hội văn nghệ Lâm Đồng , ngỏ ý muốn đến thăm tỉnh uỷ . Khi được tôi báo tin , phó bí thư trực tỉnh uỷ Nguyễn Duy Anh ( sau là chủ tịch UBND tỉnh ) đã vui vẻ hẹn ngày giờ tiếp . Tôi đưa Thanh Thảo đến đúng ngày giờ hẹn . Câu chuyện thân mật chiều hôm ấy giữa nhà thơ với phó bí thư tỉnh uỷ ít nói về văn chương nghệ thuật ,mà Thanh Thảo nói nhiều về tình trạng rừng thông Đà Lạt bị phá nặng . Phải, chẳng cần có con tim và con mắt nhạy cảm của nhà thơ , mà một con tim con mắt thường thôi , thoáng qua cũng thấy xót xa lo lắng cho rừng thông Đà Lạt . Và không ai không hãi hùng khi hình dung ra cái viễn cảnh đang đe doạ : một Đà Lạt không còn rừng thông , một Đà Lạt trần truồng .

            Thăm tỉnh uỷ xong, Thanh Thảo lại muốn thăm uỷ ban . Cái ông nhà thơ này có lối chơi ngông riêng là cứ thích gặp lãnh đạo . Thì tôi cũng chiều . Chủ tịch tỉnh mới bị tai nạn xe ,đang nằm bệnh viện . Tôi đưa Thanh Thảo tới khu Nội II – nơi dành riêng cho cán bộ trung cao cấp – thăm chủ tịch Nguyễn Xuân Du ( sau là bí thư tỉnh uỷ ) . Thấy một nhà thơ nổi tiếng từ miền Trung lên lặn lội tới thăm mình giữa lúc đang nằm bệnh viện ,chủ tịch Du tỏ ý rất vui mừng , tiếp khách ngay tại phòng bệnh , một bên chân đang còn bó bột . Ông có cốt cách mộc mạc dễ gần của một cán bộ đã nhiều năm làm công tác vận động quần chúng . Ông thổ lộ với Thanh Thảo rằng ông cũng làm thơ . Nhưng câu chuỵên giữa nhà thơ với chủ tịch Du hầu như chẳng đả động đến thi ca , mà cũng lại xoay quanh mấy cây thông rất nên thơ có nguy cơ bị đốn . Trước nỗi lo lắng của nhà thơ, chủ tịch Du nói như đinh đóng cột :” Ông yên chí đi , tôi còn làm chủ tịch thì không thể một cây thông nào bị chặt mà không có phép. Ở đây ,chặt một cây thông phải có chữ ký của chủ tịch tỉnh “ . Thanh Thảo có vẻ vẫn chưa yên tâm sau lời đảm bảo ấy .

            Hôm sau , Thanh  Thảo đưa cho tôi bài thơ Những cây thông kêu. Tháng 11-1987 , tôi cho đăng bài thơ trên LANG BIANG số 1 , tạp chí mới ra lò của Ban vận động thành lập Hội văn nghệ . Vừa phát hành được hai ngày , số tạp chí này đã được nghênh đón ngay bằng một cuộc hội thảo đơn phương tại Sở văn hoá ,có trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy dự, nhưng lại không mời Ban biên tập Lang Bian và các tác gỉa có bài .

                        Những cây thông ào vào tỉnh \uỷ

                        Xin đừng đốn chúng tôi “

            Thanh Thảo viết thế . Các nhà gác cổng tư tưởng lập tức hô hoán ầm lên :” Những cây thông ào vào tỉnh uỷ ! Thế đấy ! Rõ ràng là văn nghệ lợi dụng đổi mới để biểu tìna"chống Đảng chứ còn gì nữa !”

            Trong khi đó thì một số đồng nghiệp văn chương ở Đà Lạt và các nơi lại chê Thanh Thảo còn quá rón rén khép nép , chưa dám nói hết cái tư thế cần có của kẻ sĩ : sao lại xin đừng đốn chúng tôi ? Phải dõng dạc tuyên bố : Không được đốn chúng tôi chứ !

            Những cây thông không biết nói đã bị đốn hàng ngàn hàng vạn hecta suốt bao năm ròng . Giá như tiếng kêu của những cây thông do Thanh Thảo cất lên lọt được tới tai tổng bí thư  Đỗ Mười ngay hồi đó , liệu số phận cây rừng có đỡ bi thảm hơn chăng ?

            Còn số phận những cây thông  biết nói thì sao ? Năm 1978 , Ban biên tập báo Lâm Đồng bị kỷ luật về tội “ dội nước lạnh vào  nghị quyết ( lâm nghiệp ) của tỉnh uỷ “và tội đăng bài thơ “ Nói với trái tim mình của nhà thơ phó tổng biên tập Văn Thảo Nguyên , bị coi là có cái nhìn u ám , lệch lạc .Xin trích :

                        Giặc tan rồi áo mẹ đã lành đâu

                        Vầng trán cha hằn những vết sâu

                        Cha vẫn lưng trần vác gỗ

                        …

                        Chỉ ta thôi, bụi mờ tầm mắt

                        Ta giam ta trong huyền ảo phố phường

                        Ao chưa rách đã thay áo khác

                        Chưa một lần nhạt muối bữa cơm

 

                        Đảng dạy ta sống tận trung tận hiếu

                        Phải làm người đầy tớ của dân

                        Ta trót say những bài ca lạc điệu

                        Ngại cả vết bùn vương lấm bàn chân

                        Ngại cả lối về buôn rẫy

                        Nơi mẹ cha nhịn bữa nuôi mình .

           

            Văn Thảo Nguyên viết thế.Và bị đốn cái phập.Kẻ cầm rìu đốn anh hẳn phải là kẻ mang nặng tâm lý kỳ thị với lời kêu gọi tận trung tận hiếu với nước với dân mà anh cất lên  Sau vụ ấy ,ngán cái kiểu cư xử phi lý đó quá , anh bỏ đi . Rồi năm 1989 , hai cán bộ chủ chốt cùa Hội văn nghệ tỉnh bị đốn cái phập . Bí thư tỉnh uỷ Nguyễn Xuân Du ra quyết định cách chức một chủ tịch , một ủy viên thường vụ trực của Hội do hội viên mới bầu trong đại hội của họ , bất chấp nghị quyết 6 của Ban chấp hành trung ương Đảng long trọng khẳng định :” Đảng tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn thể. Mà họ có tội gì ?

 “ Tội" của họ là tiến hành một chuyến đi dọc miền Trung ký kiến nghị cùng một số Hội văn nghệ tỉnh bạn yêu cầu sớm thể chế hoá nghị quyết 05 của Bộ chính trị để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống . Hoá ra nghị quyết trung ương cũng có thể bị đốn cái phập bởi lưỡi rìu “ phép vua thua lệ làng “. Mà chẳng riêng dân văn nghệ bị đốn . Ông Hồ Du , nguyên chủ nhiệm uỷ ban thanh tra nhà nuớc tỉnh , ngoài 70 tuổi đời , trên 40 tuổi đảng , về hưu đang làm chủ tịch uỷ ban mặt trận tổ quốc phường 2 , bỗng nhiên bị bắt KHÔNG CÓ ÁN chỉ vì viết một bài tố cáo tham nhũng . Người ta bắt ông chỉ một ngày sau khi có thư của công-dân-bí-thư-tỉnh uỷ Nguyễn Xuân Du khiếu nại rằng công dân Hồ Du vu khống mình trong bài báo ấy . Ông Hồ Du đòi mở phiên toà xét xử xem ông bị bắt vì tội gì ,đòi mãi năm này qua năm khác , trả lời ông vẫn là một sự im lặng đáng sợ .

            Tiếng xe ủi phía Đồi Cù vẫn gầm rít dai dẳng .

            Trong cõi im lặng đáng sợ kia , tiếng gầm rít của nó chế ngự tất cả . Tôi bỗng rờn rợn cảm thấy như chính nó là hiện thân của một thế lực hắc ám chưa hoàn toàn lộ mặt , một thế lực qui tụ những sức mạnh cặn bã nhất từ bên ngoài , cố kết với những sức mạnh cặn bã nhất trong lòng dân tộc đang mưu toan đè nghiến đất nước này dưới làn xích hung bạo của một lòng tham không đáy , mê muội đến điên cuồng vì quyền và tiền , tiền và quyền .

            Nó đè nghiến trước hết lên QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN .

            Đồi Cù bị cho thuê dài hạn với giá rẻ mạt theo một hợp đồng liên doanh ký kết lúc nào đó  ở đâu đó mà người dân Đà Lạt không hề được biết , chỉ đến khi nghe tiếng xe ủi gầm rít ẫm ĩ mới ngớ người . Mà nói gì dân thường . Ngay cả Hội đồng nhân dân thành phố Đà Lạt cũng không được biết , chỉ biết rằng mười mấy vị quan chức lớn trong tỉnh được phía đối tác mời đi chơi Thái Lan . Ngày xưa, khi Mỹ ủi làng ủi xóm , có những bà mẹ Quảng Nam đã nhảy cả lên xe giữ tay thằng giặc lái, có bà nằm lăn ra trước lưỡi cày . Bây giờ thì cảnh sát cơ động của chuyên chính vô sản được rải ra canh gác ven Đồi Cù để giữ an toàn cho xe ủi xây dựng thật nhanh sân gôn . Còn Hội đồng nhân dân thành phố thì chỉ dám khép nép gửi một công văn lên hỏi cấp trên , thế thôi . Và người dân Đà Lạt chỉ được đứng ngoài mà ngó vào cái vùng đồi thắng cảnh nổi tiếng tràn đầy kỷ nịêm của bao thế hệ từ nay đã thành lãnh địa ăn chơi riêng của một ít kẻ lắm tiền nhiều quyền .

            Những chiếc xe ủi cứ tiến tới , tiến tới . Quyền làm chủ của nhân dân nào có la gì đối với nó.

            Đồi Cù đã xanh lớp cỏ mới . Sân gôn đã mở . Khách chơi gôn , ngoài các tỷ phú từ Hồng Kông ,Đài Loan ,Xanhgapo , Thái Lan , từ Châu Âu , châu Mỹ tới , đương nhiên là không thể thiếu các vị đầy tớ lớn nhỏ của nhân dân . Biết “mát xa mát gần “ rồi thì cũng phải biết chơi gôn nữa chứ , cho nó đã cái đời đầy tớ . Đã đành ,kẻ nào lắm tiền thì cứ ăn chơi , kinh tế thị trường mà , có dở hơi mới xía vô chuyện đó . Có điều ở nước ta bây giờ xuất hiện một khoái lạc mới , ăn chơi bằng tiền của dân nó thoải mái hơn , sự khoái lạc được nhân lên gấp bội vì vừa cứ ăn chơi thoải mái lại vừa hưởng cái thú được tôn vinh là người của dân do dân vì dân – âu đó cũng là một nét đặc trưng không tiền khoáng hậu của thời buổi này .

 

 

 

 

 

 

                                                II

           

            Tiếng xe ủi vẫn cứ nghiến mãi lên hồn tôi .

            Đêm đêm , tôi lại lặng lẽ chong lên ngọn đèn nhỏ của trái tim mình . Một mình tôi với đèn .Trang giấy trắng dưới ánh đèn càng trắng hơn đêm trước , trắng tinh một nỗi thách thức . Viết gì đây ? Viết gì đây cho không hổ thẹn với ánh đèn này , cho không vấy bẩn ngòi bút này , trang giấy này ?

            Hay là … Hay là gác bút , im lặng ?

            Không có một nhà văn nào lại có thể im lặng được .Nếu anh ta im lặng , thì có nghĩa đó không phải là nhà văn chân chính . Còn nếu nhà văn chân chính mà im lặng ,thì anh ta sẽ chết “ *

            Những lời ấy của Mikhain Bungakốp  cất lên từ 63 năm trước, vang động hồn tôi giữa đêm ĐàLạt .

            Bên cạnh trang giấy trắng chưa viết được gì của tôi , hiện lên thăm thẳm những dòng chữ đen , như những cặp mắt nhìn xoáy vào tôi, từ một cõi đời tôi chưa từng biết :

            “ CÔNG DÂN HOÀNG MINH CHÍNH , NGUYÊN TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG DÂN CHỦ VIỆT NAM , NGUYÊN TỔNG THƯ KÝ HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM , NGUYÊN VIỆN TRƯỞNG VIỆN TRIẾT HỌC , SĨ QUAN THƯƠNG BINH , NƠI Ở 26 LÝ THƯỜNG KIỆT – HÀ NỘI

            YÊU CẦU CÁC CƠ QUAN PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC VIỆT NAM XEM XÉT VỤ ÁN PHI PHÁP , MỆNH DANH LÀ “ VỤ XÉT LẠI – CHỐNG ĐẢNG ‘ , SAU ĐỔI TÊN GỌI PHỔ BIẾN LÀ VỤ HOÀNG MINH CHÍNH NHẰM LÀM LU MỜ ĐI TÍNH CHẤT CHÍNH TRỊ VỤ ÁN .

            VỤ ÁN “ XÉT LẠI – CHỐNG ĐẢNG “ DO ÔNG LÊ ĐỨC THỌ , UỶ VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ ,TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẠO DIỄN VÀ QUYẾT ÁN, LỆNH BẮT ĐÚNG NGÀY 27-7-1967 ( KỶ NIỆM 20 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27-7-1947 ) . SAU ĐÓ CÓ NHIỀU ĐỢT BẮT BỚ TIẾP THEO “

            Ngày 27-7-1967 , tôi đang hành quân vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu , vừa hành quân vừa hát :” Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình …”

            Tôi có ngờ đâu , khi tôi lao lên chiến đấu để chống lại điều ác, thì sau lưng tôi ,cái ác vẫn hoành hành ,cái ác mang mặt nạ cái thiện .

                        Ông  Hoàng Minh Chính viết :

                        “1- Trung thực mà nói, trước năm 1957 , lập  trường tư tưởng – chính                             trị của tôi là giáo điều  mao-ít Mác Lênin . Được cử đi học ở Liên      

Xô ( tại trường cao cấp trực thuộc Ban chấp hành trung ương Đảng         CSLX ) từ năm 1957-1960 , tôi đã tự nguyện chuyển đổi  sang lập trường   

xét lại  hiện đại trên các bình diện quan hệ quốc tế của nghị quyết

đại hội 20 Đảng CSLX . Tuy nhiên , còn một loạt quan điểm đối nội của Liên Xô không được chúng tôi hưởng ứng . Theo chúng tôi , cả 5 quan điểm quan hệ quốc tế xét lại hiện đại * của nghị quyết đại hội 20 là chiều hướng khách quan , văn minh , tất yếu của thời đại mới ngày nay , không có con đường nào khác . Ban chấp hành trung ương Đảng CSLX và đại hội 20 đã có trí tuệ sáng láng va dũng khí sáng tạo .

              Xét cho cùng , về bản chất và nội dung , cả 5 quan điểm đó đã phủ nhận sạch trơn các nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác –Lê Nin . Như vậy , gọi đường lối quốc tế đó của Liên Xô là “ xét lại chủ nghĩa Mác Lê Nin và là xét lại hiện đại “ , theo tôi nghĩ , là đúng sự thật .

 

__________________________________

                                      *  Các lụân điểm “ xét lại hiện đại “ ( theo ông Hoàng Minh Chính ,

cũng trình bày trong văn bản này ) là :

1-chiến tranh không phải là định mệnh

2- Ngày nay có thể ngăn chặn được chiến tranh thế giới

3- Chung sống hoà bình , thi đua hoà bình , hợp tác toàn diện giữa các nước không phân biệt chế độ xã hội và nâng cao mức sống nhân dân là đường lối quốc tế duy nhất hợp lý .

4- Hoà bình phát triển dân chủ là nguyên tắc đúng đắn tối ưu đối nội đối ngoại .

5- Chống tệ sùng bái cá nhân lãnh tụ , phát huy mạnh mẽ tự do dân chủ , thiết lập pháp chế kỷ cương công bằng xã hội là điều kiện thiết yếu cho trật tự xã hội , hạnh phúc của nhân dân .

 

 

                       

 

                       

 

            2- Một ngày giữa tháng 9-1960 , chủ tịch Trường Chinh điện tôi lên , giao chuẩn bị gấp 5 vấn đề quốc tế có bất đồng trong phong trào cộng sản quốc tế ( như trên đã nói ) , vàphải trình bày lý lụân với các sự kiện chứng minh, cố gắng tìm ra những “tiền lệ “ điển hình để chỉ ra chân lý thuộc bên nào .” Bộ chính trị đang họp dở ,bàn 2 ngày chưa ngã ngũ . Anh về chuẩn bị gấp , hôm sau lên báo cáo “ , lời chủ tịch Trường Chinh .

            Vì gấp quá , không kịp viết thành văn bản , tôi báo cáo miệng . Chủ tịch Trường Chinh thông qua toàn bộ rồi điện mời Bộ chính trị họp lại ngay , Bộ chính trị nghe chủ tịch Trường Chinh báo cáo đầy đủ ,hỏi đôi điều rồi thông qua trọn vẹn . Ngày hôm sau , chủ tịch Trường Chinh điện tôi lên và thông báo kết quả tốt đó .Chủ tịch cho biết là chủ tịch có báo cáo với Bộ chính tri” rằng các ý kiến trình bày đó là do Hoàng Minh Chính chuẩn bị. Tính trung thực của chủ tịch Trường Chinh là như thế .

            Vậy là cả 5 quan điểm xét lại hiện đại đó đã được Bộ chính trị chấp nhận từ tháng 9-1960 .Liền đó chủ tịch Trường Chinh lên đường đi dự hội nghị trù bị cho hội nghị 81 Đảng cộng sản sẽ họp vào cuối năm 1960 .

            3- Đoàn đại biểu cấp cao Đảng CSVN do chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu , thành viên có Tổng bí thư Lê Duẩn và uỷ viên Bộ chính trị Nguyễn Chí Thanh dự hội nghị 81 Đảng cộng sản . Tất cả 81 Đảng , kể cả Đảng CSVN , đã nhất trí ký vào tuyên bố chung Mátxcơva tháng 11-1960 , có ghi đầy đủ 5 điểm xét lại hịên đại  đó .

            4- Tuy nhiên , cuối năm 1963 , Bộ chính trị lại triệu tập hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng CSVN lần thứ 9 , khoá 3 , ra nghị quyết 9 – là bước ngoặt từ lập trường tuyên bố chung 81 Đảng nhất trí với đại hội 20 Đảng CSLX nhảy sang chủ nghĩa giáo điều mao-ít . Nghị quyết 9 là dòng nước ngược mở đường cho phong trào lên án dữ dội chủ nghĩa xét lại Liên Xô và bản tuyên bố chung Mátxcơva 1960 . Xin lưu ý một điều là không tham gia biểu quyết nghị quyết 9 có một số uỷ viên trung uơng và cả chủ tịch Hồ Chí Minh.

            Hệ quả của nghị quyết 9 là vụ án “ xét lại chống Đảng “ được tạo dựng . Tôi có gửi cho hội nghị trung ương lần thứ 9 hai bản kiến nghị , một bản phê phán Bộ chính trị đã tự ý bỏ nguyên tắc đồng thụân ( consensus ) của bản tuyên bố Matxcơva năm 1960 , còn một bản phê phán đuờng lối quốc tế sai trái của trung ương Đảng CS Trung Quốc trong việc đả kích đường lối quốc tế gọi là xét lại hiện đại của tuyên bố 81 Đảng và của nghị quyết 20 Đảng CSLX . Ông Lê Đức Thọ , bất chấp hiến pháp và luật pháp , đã ra lệnh bắt bỏ tù tôi rồi đích thân tuyên án “ cách chức vịên trưởng vịên triết học , khai trừ đảng tịch ,tước quyền công dân , biệt giam cho tới khi nào chịu hối cải về tội xét lại – chống Đảng , phản cách mạng , âm mưu lật đổ , làm tay sai cho đế quốc “ .Lần biệt giam này kéo dài 5 năm , tiếp liền đó là quản chế . 

            Tiếp sau đó là lần thứ hai tôi bị tống giam dưới chế độ Cộng sản – từ năm 1981 đến 1987 , và tiếp liền bị quản chế tại nhà cho đến năm 1990 .Sau đó tuy gọi là giải quản nhưng vẫn bị công an theo dõi chặt chẽ , bao vây và cô lập với xã hội . Cả lần này nữa , vẫn là ông Lê Đức Thọ làm tổng tư lệnh đánh xét lại ( như lời một uỷ viên trung ương Đảng CSLX gọi tên ông Lê Đức Thọ ) . Đòn đánh lần này tàn bạo gấp bội lần trước . Nhà tù giam mỗi một mình tôi ( biệt giam ở Hải Hưng ) , có trên 20 sĩ quan công an từ cấp uý đến cấp tá canh gác ngày đêm , không rời mắt một giây phút . Họ tuyên bố thẳng với tôi rằng :” Chúng tôi được phép hành hạ anh !” .Có tên nói :” Tôi sẽ giết anh . Tay tôi đã từng vấy máu . Anh là tên phản cách mạng !” .Rồi họ dùng biện pháp gây tiếng ồn phá giấc ngủ ban đêm , gây bệnh ỉa chảy liên tục bằng cách bỏ ruồi nhặng vào canh , cho thức ăn ôi , khi lâm bệnh thì hãm không cho thuốc uống , cứ liên tục như  vậy … Rồi họ đầu độc tôi hai đợt bằng cách cho ăn thức ăn có hoá chất độc , gây ốm mê man , miệng nôn trôn tháo , bụng quặn đau , toàn thân run rẩy suốt tuần ,( có bác sĩ khám chứng nhận đúng là bị ngộ độc thức ăn ) . Một lần , tôi bị 5 tên công an lực lưỡng xông tới bẻ quặt tay , nắm tóc ,buộc giẻ bịt miệng rồi bóp cổ cho tới chết ngất … Không sao kể xiết tất cả các đòn thù dã man tàn bạo giáng xuống đầu tôi trong nhà tù biệt giam theo lệnh ông Lê Đức Thọ . Mục tiêu duy nhất của họ là huỷ hoại sức khoẻ , tiêu diệt ý chí phản kháng , buộc “ phải cúi đầu , quỳ gối nhận tội “ như lời hai sĩ quan tay sai của ông Lê Đức Thọ đã thét vào mặt tôi ( tên chúng là Nguyễn Ngọc Nghị và Hoa Văn Lan ) .

            Hai lần tù giam cộng 11 năm và 9 năm quản chế tiếp liền sau đó – tổng cộng 20 năm tù đầy và quản chế với tất cả mọi nhục hình và những hành vi nhục mạ xúc phạm nhân phẩm .”

    Một  mình tôi với ngọn đèn . Không biết đã bao lần , tôi đọc đi đọc lại những dòng vừa trích trên đây .Lần nào cũng không nén nổi bàng hoàng . Không lẽ trong hàng ngũ  cách mạng , trong Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh của tôi lại diễn ra những tội ác ghê tởm đến thế ư ? Tôi muốn kêu lên , tôi muốn gào lên , câu hỏi này . Nhưng hỏi ai ?

            Ngày 3 tháng 10 năm 1993 , tôi đã gửi thư ngỏ tới  Quốc hội , Ban chấp hành Trung ương Đảng , Mặt trận , các đoàn thể và các bạn hữu ,để bày tỏ ý kiến của mình về vụ án bí mật  “xét lại- chống Đảng “ mà ông Hoàng Minh Chính đòi đưa ra ánh sáng .

            Tôi là một người làm thơ . Tôi cũng là một đảng viên cộng sản từng ở trong Đảng

22 năm . Tôi hằng nghĩ về Đảng với những ý nghĩ tốt đẹp nhất – Đảng là hiện thân của trí tuệ và lương tâm , tôi luôn theo lời Đảng dạy rèn luyện mình trở thành một người nghệ sĩ – chiến sĩ mà cốt lõi của phẩm chất ấy là chiến đấu , trước hết bằng ngòi bút , để phát hiện và bảo vệ chân lý . Tôi cần biết sự thật .

            Thư gửi đi ,như gửi vào cõi im lặng .

            Mãi gần đây , do một sự tình cờ ,tôi có trong tay bản thông báo ra ngày 20-3-1994 của Ban tư tưởng văn hoá trung ương . Thông báo này ngoài bản in rônêô ghi chú lưu hành nội bộ còn đăng trong tập “ Sổ tay xây dựng Đảng  “số tháng 3-1994 của thành uỷ TP Hồ Chí Minh lưu hành công khai . Đọc xong , tôi mới biết người ta nêu tên mình trong đó .

            Ở phẩn mang tiêu đề :”  Về hoạt động của Hoàng Minh Chính “ , thông báo đưa ra lời giải thích về vụ án” xét lại- chống Đảng “

            “ Do tính chất đặc biệt nghiêm trọng và nhiều người là cán bộ đảng viên đang giữ các chức vụ khác nhau nên ngày 14-11-1968 Bộ chính trị quyết định thành lập Ban chỉ đạo chuyên án gồm 8 đồng chí trong Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương phụ trách các ngành tổ chức , kiểm tra, Viện kiểm sát , Bộ công an , Bộ quốc phòng .

            Tháng 3 năm 1971 , Bộ chính trị đã họp để nghe toàn bộ vụ án, bàn biện pháp xử lý. Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 20 ( tháng Ó1.1972) đã được Bộ chính trị thông báo về vụ này và Hội nghị trung ương kết luận :” Đây là một vụ án rất nghiêm trọng , có mục đích có biện pháp tiến hành nhằm lật đổ cơ quan lãnh đạo của Đảng ,đồng thời tổ chức hoạt động tình báo cho nước ngoài và được nước ngoài chỉ đạo chặt chẽ …” ( trích nghị quyết số94 ngày 27/1/1972) .Tuy nhiên , do tình hình đất nước và mối quan hệ quốc tế lúc bấy giờ nên hội nghị trung uơng chủ trương không truy tố trước toà án mà xử lý hành chính bằng biện pháp tập trung giáo dục cải tạo ( theo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ quốc hội lúc bấy giờ ) Kết luận cùa hội nghị trung ương lần thứ 20 ( khoá 3) đã được phổ biến đến các bộ ,ban ngành (cấp vụ ) , các tỉnh thành ( cấp thành , tỉnh uỷ viên )”.

            Như vậy , các đảng viên từ dưới cấp vụ và cấp thành , tỉnh uỷ viên trở xuống không ai được biết gì về vụ án này  .

            Với tôi , đây là lần đầu tiên được đọc ý kiến chính thức của cơ quan lãnh đạo Đảng  Càng đọc ,càng thêm thắc mắc ! Ngay cả những lời gọi là “ thú nhận của Hoàng Minh Chính “ mà thông báo 20.3.94 Ban TTVH trung ương nêu ra cũng không thể làm mờ các câu hỏi.

            Ông Hoàng Minh Chính bị bắt ngày 27.7.1967 .Mãi đến tháng 3-1971 , Bộ chính trị mới nghe toàn bộ vụ án và bàn biện pháp xử lý và tháng 1-1972 hội nghị trung ương mới nghe Bộ chính trị thông báo rồi kết luận . Như vậy thời gian 4 năm 6 tháng ông Hoàng Minh Chính cùng nhiều cán bộ đảng viên khác bị bắt giam biệt lập là theo lệnh của ai , cơ quan pháp lụât nào ,ai ký, dựa trên cơ sở pháp lý nào ? Có gì đảm bảo rằng những lời gọi là “ thú nhận của Hoàng Minh Chính “ mà thông báo 20-3-94 Ban TTVH Trung ương nêu ra , viết trong hoàn cảnh bị biệt giam , là hoàn toàn không bị một sự truy bức lộ liễu hoặc tinh vi nào chi phối ? Dựa trên lời thú nhận trong lúc bị giam cầm của một người để kết tội người ấy thì có đáng tin cậy về pháp lý không?

            Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương khi xem xét vụ án có làm việc một cách dân chủ không ? Hay các uỷ viên Bộ chính trị cũng bị chi phối bởi Tổng bí thư và trưởng ban tổ chức trung ương ? Và Ban chấp hành trung ương cũng bị chi phối bởi Bộ chính trị ? Thực tế mất dân chủ và chỉ có dân chủ hình thức kéo dài trong Đảng buộc tôi phải đặt ra mối nghi vấn này .

            Thông báo ngày 20-3-94 của Ban TTVH trung uơng cho thấy Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương đã làm chức năng của một toà án để kết tội nhiều người trong và ngoài Đảng .Toàn bộ văn kiện của Đảng CSVN và văn kịên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ thời thành lập có điều khoản nào cho phép Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương làm chức năng một toà án không ? Theo chỗ tôi biết thì không hề có một điều luật nào như thế cả . Như vậy Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương dựa vào đâu để tự cho phép mình làm chức năng của một toà án ?

            Một nguyên tắc sơ đẳng mà công lý đòi hỏi khi xét xử là trước khi  kết   tội    một

 người , thì tất cả những người ngồi ghế xét xử nhất thiết phải trực tiếp nghe người bị đưa ra xét xử trình bày , biện hộ về điều họ bị cáo buộc là có tội . Bộ chính trị có làm thế không ? Ban chấp hành trung ương có làm thế không ? Qua thông báo 20-3-94 của Ban TTVH trung ương , tôi hình dung cách tiếp nhận thông tin của “toà án” Bộ chính trị , Ban chấp hành trung ương như sau : Bộ chính trị nhận thông tin từ ông Lê Đức Thọ ( sau khi bắt giam ông Hoàng Minh Chính cùng những người khác đã 1 năm 4 tháng ) rồi quyết định thành lập Ban chỉ đạo chuyên án . Tiếp theo , Bộ chính trị nhận thông tin từ Ban chỉ đạo chuyên án ( đứng đầu là ông Lê Đức Thọ ) rồi bàn biện pháp xử lý . Tiếp theo nữa , Ban chấp hành trung ương nhận thông tin từ Bộ chính trị và quyết án . Không thấy đâu bóng dáng của một chiều thông tin nào khác .Những bản gọi là “ thú nhận “ của các nạn nhân bị xử vắng mặt không có giá trị như một chiều thông tin khác . Gọi là vụ án , quyết định sinh mệnh của hàng gần 100 con người , mà không thấy đâu bóng dáng một luật sư nào , một điều luật nào, chỉ thấy các nghị quyết . Tôi tự hỏi , không biết các uỷ viên Bộ chính trị và uỷ viên trung ương hồi ấy rồi có thấy lương tâm cắn rứt khi giơ tay biểu quyết kết tội gần một trăm con người mà không hề trực tiếp nghe họ nói một lời nào trước khi “ định án” , hơn nữa đây chẳng phải ai xa lạ mà lại chính là những người đồng chí đã từng bao năm cùng nếm mật nằm gai vào sinh ra tử đấu tranh giành độc lập cho dân tộc , tự do hạnh phúc cho nhân dân ?
            Bộ chính trị , Ban chấp hành trung uơng không phải là thần thánh , nên cũng có lúc phạm sai lầm .Trong tình trạng Đảng không có dân chủ thì nguy cơ phạm sai lầm càng cao . Ngay cả đại hội Đảng cũng phạm sai lầm , thậm chí sai lầm nghiêm trọng – đại hội 4 là một ví dụ – nói gì Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương . Không loại trừ khả năng là trong vụ án “ xét lại chống Đảng “ này, Bộ chính trị , Ban chấp hành trung ương có thể sai lầm . Nhìn vào hoạt động thực tiễn của Đảng hiện nay , thấy có nhiều căn cứ để có thể tin vào các kết lụân của Ông Hoàng Minh Chính :

           “1- Ông Lê Đức Thọ và các Ban của ông đã lấy chủ nghĩa Mao làm kim chỉ nam cho công tác quản lý tổ chức và tư tưởng của Đảng .Từ đó ông rút ra công thức : chủ nghĩa xét lại hiện đại là chống chủ nghĩa Mác –Lênin tức là chống Đảng ( xét lại = chống Đảng )

            Và từ đó xuất hiện vụ án “ xét lại – chống Đảng “

            2- Ông Lê Đức Thọ và các Ban đã vờ quên là Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương đã 3 lần chấp nhận chủ nghĩa xét lại hiện đại .

            Lần thứ nhất vào tháng 9-1960 ( như trên đã trình bày )

            Lần thứ hai vào tháng 11-1960 ( như trên đã trình bày )

            Lần thứ ba là hiện nay Bộ chính trị , Ban chấp hành trung ương Đảng trong thực tiễn đã vượt xa các quan điểm xét lại hiện đại Liên Xô thuộc thập kỷ 1950-1960 ( ngoại trừ điểm 5) . Cũng bằng công thức “ xét lại = chống Đảng “ , lô gích dẫn tới kết luận : Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương đã 3 lần xét lại chống Đảng .

            3- Bỏ qua cái lô gích hình thức lẩm cẩm của họ mà xét thực chất vấn đề , thì rõ ràng là : 5 luận điểm cơ bản về quan hệ quốc tế của Đại hội 20 Đảng CSLX năm 1956 là chân lý phản ánh các quan hệ quốc tế hiện thực khách quan thế giới ,không có con đường hợp lý nào khác . 

            Nếu Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương Đảng kết tội những người trong vụ án xét lại= chống Đảng thì, công bằng mà nói ,phải tự kết tội mình trước đã .”

            Ông Hoàng Minh Chính bị bắt hai lần . Việc ông bị bắt lại năm 1981 và bị giam giữ quản chế suốt 9 năm theo lệnh của UBND tỉnh Hải Hưng mà không xét xử , là vì tội gì ? Tại sao không xét xử ? Không có lý do gì để bắt giam quản chế một người mà không xét xử nếu người ấy phạm pháp . Hay chỉ vì thực ra ông chẳng làm gì phạm pháp cả ngoài việc gửi kiến nghị cho Quốc hội đòi đưa vụ án “ xét lại -= chống Đảng “ này ra ánh sáng ? Nếu đúng chỉ có vậy thì rõ ràng đây là một hành vi đàn áp trù dập công dân khi họ gửi kiến nghị khiếu tố cho cơ quan có thẩm quyền , một sự chà đạp thô bạo lên Hiến pháp và pháp luật . Lô gích của vấn đề rất đơn giản : nếu không xét xử được ông Hoàng Minh Chính thì phải xét xử người đã ra lệnh bắt giam quản chế ông. Có thế luật pháp mới nghiêm minh .

            Tháng 11-1991 , Bộ chính trị ( khoá 7 ) khẳng định việc giải quyết vụ án này là “ có lý có tình “ . Nếu quả đúng như vậy thì Bộ chính trị có sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà văn , nhà báo, nhà khoa học trong và ngoài nước  nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án , gặp gỡ phỏng vấn tất cả những người đã ngồi ghế “ xét xử “, những nhân chứng , và những người bị “kết án “ cùng thân nhân của họ ?

            Mới đây , tôi lại vừa được đọc đơn của bà Phạm thị Tề gửi các cơ quan cao nhất của Đảng , Nhà nước và các bạn hữu , viết ngày 20-2-1994 yêu cầu đưa ra xét xử công khai vụ án “ xét lại – chống Đảng “

            Bà PHẠM THỊ TỀ , giáo viên đã nghỉ hưu , là vợ ông VŨ ĐÌNH HUỲNH , nguyên thành viên tổ chức Vịêt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ,nguyên đảng viên Đảng CSVN (1930) , nguyên bí thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh , nguyên giám đốc công thương Liên khu III ,IV , nguyên vụ trưởng vụ lễ tân Bộ ngoại giao ,nguyên vụ trưởng Ban thanh tra chính  phủ , huân chương kháng chiến hạng nhất , nghỉ hưu từ 1964 và đã mất tại nhà riêng ở Hà Nội ngày 03-5-1990 .

            Bà Phạm thị Tề viết :

                     “ Tôi  không thể ngờ vào đêm 18-10-1967 , tai hoạ đã giáng xuống gia đình tôi . Công an ập vào nhà bắt giữ chồng tôi và sau khi lục soát đã đem đi tất cả những tấm ảnh nhà tôi chụp chung với Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc , ở phố Hàng Ngang ngày Bác viết Tuyên ngôn Độc lập , ở Paris khi nhà tôi được Bác  phong đại tá cận vệ trong phái đoàn dự Hội nghị Phôngtennơblô . Vào thời điểm bị bắt , nhà tôi đã nghỉ hưu được ba năm .

                        Ai có thể hiểu được nỗi cay đắng của tôi lúc đó ? Một người phụ nữ hai lần chứng kiến cảnh bắt bớ chồng mình ở hai chế độ đối kháng nhau : lần thứ nhất (1940) bị bắt và kết án 3 năm tù khổ sai tại nhà tù Sơn La vì can tội chống chế độ thực dân , lần thứ hai (1967) bị bắt và đưa đi biệt giam – KHÔNG CÓ ÁN – ngay trong chế độ Dân chủ Nhân dân , một chế độ ma chính ông ấy đã góp xương máu tạo dựng nên , một chế độ “ một triệu lần dân chủ hơn chế độ tư bản

                        Rồi “ phúc bất trùng lai , hoa vô đơn chí “ , vài tháng sau ngày ông Huỳnh bị bắt , con trai tôi , VŨ THƯ HIÊN , biên tập viên Báo Ảnh Vịêt Nam cũng bị bắt trên đường về nhà, cũng bị biệt giam , cũng chẳng có một toà án nào xét xử xem nó phạm tội gì ? Hai bố con bị biệt giam mỗi người một nơi . Vũ Thư Hiên sau đó bị nhốt chung với tù hình sự . Đến 1976 ,sau 9 năm bị giam giữ KHÔNG CÓ ÁN , con tôi mới được tha về “.

            Tôi , Bùi Minh Quốc , là người làm thơ , từ ngày cầm bút chỉ biết dùng cây bút của mình phụng sự cuộc đấu tranh giành Độc lập cho dân tộc và Tự do cho mỗi con người . Đọc những dòng trên đây của bà Phạm thị Tề , tôi cảm thấy thơ mình tắt nghẹn vì phẫn uất , tôi chỉ còn biết cất lên ở đây một tiếng kêu , một tiếng gào , tiếng kêu gào trần trụi của một con người trước nỗi oan khuất của một con người .

            Bác Tề ơi ! Xin hãy nghe tiếng kêu của cháu tiếp sau tiếng kêu của bác , xin bác biết rằng trong tình trạng nghẹt thở và đảo điên phải trái này vẫn luôn có những người không chịu im lặng trước nỗi đau của đồng bào mình . Tiếng thơ cháu bất lực trước nỗi đau này , cháu muốn kêu lên bằng tiếng thơ thống thiết của nhà thơ Tố Hữu đã chấn động tâm can cháu từ thuở 18 tuổi :

                        Đồng bào ơi , anh chị em ơi

                        Hỡi lương tâm tất cả loài người !

            Tôi tin rằng lương tâm của đồng bào ta còn đó , của loài người quanh ta còn đó , tôi còn tin rằng ngay cả lương tâm ở những uỷ viên Bộ chính trị , uỷ viên trung ương Đảng năm nào đã giơ tay biểu quyết vụ án “ xét lại  - chống Đảng “ rồi cũng có lúc thức tỉnh , sẽ không để cho vụ này bị bưng bít mãi trong bóng tối và chìm vào quên lãng.

            Ngày nào tôi còn cầm bút , trái tim tôi còn vang lên tiếng kêu và lời nguyền này của bà Phạm thị Tề :

                        “Ông Vũ Đình Huỳnh – chồng tôi – một trong những nạn nhân của vụ      

                        “xét lại –chống Đảng “ đã chết . Còn tôi đã 83 tuổi ,cuộc sống chỉ còn

                        đếm từng ngày . Tôi làm đơn này không chỉ yêu cầu các cơ quan pháp  

                        luật đưa ra công khai vụ “xét lại – chống Đảng “ , xác định trắng đen rõ

                        ràng , giải toả oan ức cho chồng tôi và những nạn nhân khác, mà còn hy

                        vọng góp sức lực cuối cùng của mình vào quá trình xây dựng một nhà

                        nước pháp quyền dân chủ thật sự .

                                    Tôi hoàn toàn không muốn lá đơn này lại được trả lời bằng sự im

                        lặng .Và nếu cái sự không mong muốn ấy lại đến , thì tôi đành phải nói

                        với  các con tôi rằng : “ Chưa có dân chủ thật sự đâu , các con ạ “

                                    Và các con tôi sẽ lên tiếng . Nếu cả mười đứa con tôi chết đi mà

            vụ này vẫn chưa được đưa ra công khai , thì đời cháu tôi và những thế     

                   hệ sau chúng sẽ tiếp tục đòi hỏi yêu cầu chính đáng này trong sự      truyền nối “.

            Tiếng kêu và lời nguyền cùa bà Phạm thị Tề , dù cất lên giữa cõi im lặng giá băng , dù không được đăng trên một tờ báo nào , dù chỉ truyền đi qua những bản sao chụp , nhưng chắc chắn không chỉ có mình tôi nghe . Tôi tin rằng nhiều người cầm bút cùng thế hệ với tôi đều đã nghe, và hẳn mỗi người đều sẽ tìm cách làm một cái gì đấy theo sự thôi thúc của lương tâm mình , trong hoàn cảnh mình . Và nếu thế hệ cầm bút của tôi không đủ gan đủ sức làm gì, thì chắc chắn các thế hệ cầm bút kế tiếp sẽ làm , để cho ít ra đất nước Việt Nam được thấy một xã hội có công  lý . Tấm gương của nhà văn Pháp Emin Dôla lên tiếng bênh vực A . Đrây-phuýt , một sĩ quan Pháp bị chính quyền vu tội làm gián điệp , trong giới văn chương không ai là không biết .

            Đảng CSVN chủ trương xây dựng một nhà nước dân chủ pháp quyền . Tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo Đảng hiện nay hoàn toàn có thể chứng tỏ THỰC TÂM của mình về chủ trương xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền bằng cách thủ tiêu ngay việc kết án con người bằng “ nghị quyết “ như đã diễn ra với vụ “ xét lại – chống Đảng “ , và đưa ngay vụ này ra xét xử công khai cho đúng những trình tự tố tụng của một nền luật pháp văn minh . Nếu không, thì vẫn còn nguyên đó mối hoài nghi lớn về THỰC TÂM của những người lãnh đạo Đảng khi nói đến xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền .

 

 

 

                                               

                                                            III

 

                        Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình …

            Ai hát thế , trong đêm ĐàLạt lặng tờ ? Có lẽ là linh hồn những người đã khuất , đang hát trên trời cao .Cũng có lẽ là lòng tôi thầm hát mà chính tôi không tự biết .

            Vẫn với lửa ấy , tôi chong lên ngọn đèn này . Sao lại cứ là lửa ấy , lửa của một quá khứ đã xa , nó góp đuợc gì cho hôm nay ? Không biết nữa . Chỉ biết rằng máu tim tôi không thể đổi nhóm ,lửa từ tim tôi vẫn mãi là lửa ấy , tôi soi lên trang giấy . Tôi đọc tiếp thông báo ngày 20-3-1994 của Ban Tư tưởng Văn hoá trung ương , cố tìm xem nó chứa đựng tư tưởng gì , văn hoá nào ?

            Trong phần 4 , dưới tiêu đề “ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN HỘ “ , Bản thông báo đưa ra những điều gọi là tội trạng của ông Nguyễn Hộ , nguyên là một cán bộ cao cấp của Đảng .

            Vốn là một công nhân xưởng đóng tàu Ba Son Sài Gòn , ông NGUYỄN HỘ tham gia cách mạng sớm và vào Đảng CSVN năm 1937 , từng bị đế quốc Pháp kết án , tù đầy 5 năm tại Côn Đảo . Hồi kháng chiến chống Pháp , có thời gian ông phụ trách thành đảng bộ Sài Gòn – Chợ Lớn ( cuối 1948 đến cuối 1950 ) .Hồi kháng chiến chống Mỹ , sau những năm chữa bệnh ở miền Bắc , ông trở về Nam năm 1964 và làm uỷ viên thường vụ khu uỷ Sài Gòn – Gia Định phụ trách dân vận , công vận , Hoa vận suốt đến năm 1975 . Vợ ông , bà Trần Thị Thiệt , một cán bộ phụ nữ Sài Gòn bị địch bắt và đánh chết tại Tổng nha cảnh sát Sài Gòn hồi tết Mậu Thân 1968 . Anh ruột ông , đại tá QĐND VN hy sinh tại Củ Chi năm 1966 .

            Ấy thế mà ông đã bị bắt , khi đã 74 tuổi .

            Ông bị bắt không phải do bàn tay thực dân, đế quốc , mà do bàn tay những người đồng chí cầm quyền . Đây ,ông kể lại cảnh bắt ông:

                        “… tôi bị bắt (07-9-1990) trên sông Sài Gòn vào lúc 7 giờ sáng khi tôi bơi xuồng vừa cặp vào bờ , định bước lên đi vào đám ruộng cạnh đó để hái rau má, rau đắng về ăn . Đúng vào thời điểm ấy , một chiếc ghe lớn đang chạy trên sông tiến lại cặp sát xuồng tôi ,trong đó có 6-7 thanh niên khỏe mạnh . Bỗng có tiếng hỏi to :” Bác ơi , bác có thấy một chiếc ghe nhỏ chạy ngang qua đây không?” –“Không” – tôi trả lời . Liền có tiếng thét to : “ Đúng nó rồi !”

            Lúc bấy giờ tôi mới biết đó là ghe của công an và nghe tiếng súng lên cò rốp rốp . Tức khắc có hai công  an cường tráng , tay cầm súng đã nạp đạn nhảy xuống mũi xuồng nơi tôi đang đứng . Tôi bình tĩnh hỏi : “ Mấy chú muốn gì ?” – “Muốn gì về Sở thì biết “ – tiếng trả lời xấc xược của một công an . Hai công an đồng loạt nắm hai tay tôi ,kéo mạnh ra phía sau rồi còng ngay . Họ điều động tôi đến sát chiếc ghe lớn có tấm ván dài bắc từ mũi ghe xuống đáy . Họ xô mạnh tôi chúi mũi và tuột xuống đáy ghe…”

            Ôi , bà Trần Thị Thiệt – bà Năm Hộ , người chiến sĩ cách mạng kiên cường đã anh dũng hy sinh trong nhà tù đế quốc , giờ phút ấy hồn thiêng bay lượn nơi đâu , có kịp về chứng kiến cảnh ấy ? Đấy , cái thành quả lộn ngược của cuộc cách mạng  mà vì nó bà cùng bao chiến sĩ khác đã hiến dâng tính mạng mình không chút so đo . Người ta đã bắt người chồng già nua 74 tuổi của bà như thế đấy mà không hề có quyết định của tòa án .

            Tôi tìm đọc kỹ lại để xem Hiến Pháp nói sao về trường hợp này . Đây , Hiến Pháp 1992 nước CHXHCN VN ghi rõ ở điều 71:

                        “ Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể .

                          Không ai bị bắt nếu không có quyết định của toà án …”

            Ông Nguyễn Hộ đã bị giam giữ , quản chế gần 3 năm mà KHÔNG XÉT XỬ . Vì sao vậy ? Rốt lại thì ông mắc tội gì ?  Tội gì ? Thông báo 20-3-94 của Ban TTVH trung ương nêu ra nhiều điều gọi là tội trạng rất nghiêm trọng của ông , nhưng liệu có thể tin được không ? Chừng nào chưa xét xử ông thì tôi không tin vào điều đó . Đây , điều 72 Hiến Pháp ghi rõ:

                        “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết

                        tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật . Người bị bắt , bị giam giữ có

                        quyền được bồi thường về thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự .

                        Người làm trái pháp luật trong việc bắt , giam giữ , phải bị xử lý nghiêm

                        minh “.

            Chiếu theo Hiến Pháp thì , nếu không đưa ra xét xử được ông Nguyễn Hộ ( cũng như nhiều nạn nhân khác tương tự ) , tất phải xét xử những người đã chủ trương và thực hiện việc bắt , giam giữ ông . Đương nhiên , ngay cả trong trường hợp người ta có thể đưa ông Nguyễn Hộ ra xét xử , thì cũng phải xem xét kỹ việc xét xử ấy , bởi vì tình trạng xét xử của các toà án nước ta , như báo chí đã nêu , mà chưa chắc đã nêu hết ,tỷ lệ án oan án sai còn nhiều .

            Tôi tự hỏi , trong khi chưacó một toà án nào xét xử va đưa ra được bản kết tội đối với ông Nguyễn Hộ ( cũng như ông Hoàng Minh Chính và nhiều người khác ) thì dựa vào cơ sở pháp lý ,đạo lý nào mà Ban TTVH trung ương tự cho phép mình tuỳ tiện nói về họ trong thông báo lưu hành nội bộ và công khai ? Phải chăng cơ quan tư tưởng văn hoá của Đảng được độc quyền đứng trên Hiến Pháp vàpháp luật để độc quyền muốn nói về các công dân thế nào thì nói ( mà đều là nói sau lưng )? Đây là thứ văn hoá nào vậy ? Còn những người công dân bị nói đến thì không biết mình bị nói những gì và biết rồi thì trả lời ở đâu ? Việc làm này của Ban TTVH rõ ràng đặt mọi công dân vào tình trạng bất an , có thể bị xúc phạm danh dự mà không biết , và biết thì không thể trả lời , không thể kiện ở đâu . Nếu Ban TTVH tự tin vào những điều mình nói , và để tỏ ra thật sự văn hoá thì hãy cho đăng công khai lên báo đồng thời đảm bảo quyền trả lời của các công dân bị nói đến .

            Ngày 7-3-1994 , ông Nguyễn Hộ lại bị bắt giam lần thứ hai , theo  quyết định số 01/QĐUB của UBND thành phố Hồ Chí Minh về việc quản chế công dân Nguyễn Văn Hộ Quyết định này do chủ tịch Trương Tấn Sang ký , căn cứ vào sắc lệnh số 175/SL của chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ký ngày 18-3-1953 .

            Quyết định nêu lý do quản chế ông Nguyễn Hộ như sau :

“1- Biên soạn phổ biến tài liệu có nội dung tuyên truyền xuyên tạc chống chế độ và nhà nước CHXHCN VN

2- Gây hoài nghi chia rẽ giữa nhân dân với các cơ quan nhà nước và tổ chức xãhội .”

            Cũng theo quyết định ấy , ông Nguyễn Hộ bị đưa đi Thủ Đức , không rõ quản chế ở nhà nào , thôn xã đường phố nào , và không cho phép người thân được gặp .

            Tôi tự hỏi : giam giữ người ở một địa điểm bí mật , không cho tiếp xúc với ai kể cả lụât sư , có điều  khoản nào trong luật pháp của ta cho phép người cầm quyền làm một việc như vậy không?

            Bất giác tôi ngước nhìn lên bầu trời đêm .

            Trên cao kia , đang bay lượn hồn thiêng của bà Năm Hộ cùng bao lịêt sĩ đã bỏ mình vì Tổ quốc . Xin hồn thiêng của bà Năm , của các liệt sĩ hãy chỉ cho hai đứa con côi của ông Năm biết cha các cháu đang bị giam cầm ở đâu ? Ở đâu ? Sức khỏe , tính mạng ông ra sao?
            Không ngày nào tôi không nghe không đọc thấy người ta lặp đi lặp lại “ sống làm vịêc theo Hiến Pháp và pháp luật “. Bắt người rồi đem đi biệt tích la thứ luật nào đây?

            Những thắc mắc của tôi sau vụ bắt giam quản chế ông Nguyễn Hộ lần thứ nhất chưa được giải đáp mảy may thì nay lại càng chồng chất nặng nề thêm . Đọc đi đọc lại mãi cái quyết định 01 , thấy những điều gọi là tội của ông Nguyễn Hộ để căn cứ vào đó mà bắt giữ quản chế ông , chẳng qua chỉ là việc ông thực hiện quyền tự do tư tưởng của mình , tự do nói lên điều mình nghĩ . Không thể giam cầm con người vì tư tưởng của họ được . Nếu trong tài liệu mà ông Nguyễn Hộ đã viết và truyền bá, có chỗ nào có thể coi là “ yếu tố cấu thành tội phạm “ , thì hãy đưa ông ra xét xử đàng hoàng , chứ sao lại bắt ông đi giam giữ ở một địa điểm bí mật với thời hạn một năm . Vậy đây là một thứ án chụp lên đầu công dân không cần xét xử chăng ? Cái tội mà quyết định 01gọi là gây hoài nghi chia rẽ giữa nhân dân với các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hộilà một tội thật quá đỗi mơ hồ . Với kiểu quy tội ấy ,thì chẳng hạn tôi cũng có thể quy kết thế này : những ai đã giữ lại đến 20 năm mới công bố thêm di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh , trong đó có những điều cực kỳ hệ trọng đối với vận mệnh toàn Đảng toàn dân như “ chỉnh đốn lại Đảng” , “ miễn thuế nông nghiệp một năm “ , là những người can tội gây hoài nghi chia rẽ …” hoặc tội nặng hơn .

            Quyết định 01 lại căn cứ vào một sắc lệnh của chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký từ năm 1953 , trong hoàn cảnh đất nước đang còn chiến tranh , chính quyền nhân dân chỉ mới hoạt động trên một phần đất nước . Vì sao không thể dùng các điều  luật mới từ khi chính quyền nhân dân được thiết lập  trọn vẹn trên cả nuớc thống nhất , nhất là các luật từ khi có đổi mới, mà lại phải tìm về một sắc lệnh có từ 30 năm trước trong hoàn cảnh chiến tranh để đem áp dụng cho một công dân giữa thời đất nước thanh bình , và đổi mới ? Tôi tự hỏi không biết ông chủ tịch Trương Tấn Sang có chút áy náy nào về điểm này trước khi hạ bút ký vào quyết định 01 không ? Cơ sở pháp lý của Quyết định này không đáng tin cậy . Tôi càng không khỏi thêm ngờ rằng việc bắt giam quản chế ông Nguyễn Hộ lần thứ hai thực chất cũng là một vụ đàn áp tự do tư tưởng mà thôi .

            Thông báo ngày 20-3-94 của Ban Tư tưởng Văn hoá trung ương viết rằng ông Nguyễn Hộ đã :

                        … “in sao và tán phát một số tài liệu xấu như tâm thư của 34 Việt kiều đòi đa nguyên đa đảng , bài phát biểu của Trần Xuân Bách và tham luận có nội dung không tốt của một số người tại đại hội nhà văn lần thứ tư”

            Thế nào là tài liệu xấu ? Thế nào là tham luận có nội dung không tốt ?

            Trong khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước vừa tuyên bố chủ trương xoá bỏ mặc cảm , xóa bỏ hận thù ,thực hiện hoà giải hoà hợp  đại đoàn kết dân tộc , mọi người Vịêt Nam dù có chính kiến khác nhau đều có chỗ đứng bình đẳng trong cộng đồng dân tộc , thì Ban Tư tưởng Văn hoá trung ương viết như vậy liệu có xúc phạm đến các Việt kiều thành tâm bày tỏ những kiến giải mà họ nghĩ là tối ưu cho đất nước ? Viết như vậy liệu có “gây hoài nghi và chia rẽ ?” Đòi đa nguyên đa đảng là xấu sao ? Hồi năm 1946 , nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh thực hịên đa đảng là tốt chứ sao lại xấu ? Cách đây chưa lâu , ở nước ta ngoài Đảng CSVN còn có Đảng dân chủ , Đảng Xã hội là tốt chứ sao lại xấu ? Ban Tư tưởng Văn hoá trung ương viết như vậy thì mọi người sẽ nghĩ thế nào về lời tuyên bố của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước về chủ trương xoá bỏ mặc cảm ,xóa bỏ hận thù , hoà giải hoà hợp đại đoàn kết dân tộc ,  tôn trọng những người có chính kiến khác nhau trong cộng đồng dân tộc ? Đâu mới là thực chất , thực tâm ?

            Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ lúc còn do ông Nguyễn Hộ làm chủ nhiệm đã in sao và tán phát những tham luận của các nhà văn nào mà Ban TTVH trung ương gọi là tài liệu xấu , là tham luận có nội dung không tốt ? Tại sao không dám nói thẳng ra đó là tham luận của nhà văn Dương Thu Hương và nhà văn Bửu Tiến ? Vì đây chính là hai bản tham luận mà Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ in sao vàgửi cho Hội văn nghệ Lâm Đồng kèm sau bản tin về đại hội lần thứ tư Hội nhà văn . Còn chính bản thân tôi thì đã dự đại hội ấy , đã trực tiếp nghe và đọc trên văn bản cả hai bản tham luận ấy ( tháng 10-89) .

            Tham luận của nhà văn Dương Thu Hương nói gì ?

            Đây , chị nói :

                        “ …Mười năm nay , chúng ta đã chứng kiến tình trạng suy đồi của một số không ít đảng viên và cán bộ . Hiện tượng tham nhũng , ăn hối lộ , hà hiếp dân chúng trở thành phổ biến . Một số đã bị pháp luật nghiêm trị nhưng họ chỉ là tử số trong một phân số mà mẫu số quá lớn . Tại sao ?… Nhà văn , với chức năng đem tới những nhận thức tiến bộ cho xã hội phải chịu trách nhiệm về việc này , trước hết là những nhà văn đứng trong đội ngũ của Đảng . Đã mấy thập kỷ nay , chúng ta chỉ tuyên truyền trong công chúng : Nhân dân biết ơn Đảng , nhưng chúng ta không giáo dục đảng viên : Đảng phải biết ơn Nhân dân . Nếu đây là chân lý , chân lý ấy song phương . Nếu đây là một mệnh đề , mệnh đề ấy gồm hai vế cân phân không bên nào nặng nhẹ .

            Chúng ta tự hào rất nhiều về Đảng , người đã tổ chức thắng lợi cách mạng Tháng Tám , người đã lãnh đạo nhân dân ta qua cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ một cách oanh liệt . Kỳ tích của những cuộc chiến tranh ấy có sức mạnh khích lệ các dân tộc bị áp bức trên toàn cầu . Vì thế Nhân dân biết ơn Đảng là lẽ phải .

            Nhưng bất cứ cuộc đấu tranh nào cũng có tướng và có quân . Nếu nhân dân Việt Nam là một dân tộc hèn nhát , thiếu tinh thần yêu nước , thiếu khả năng hy sinh, liệu cách mạng Tháng Tám  và những cuộc kháng chiến giành độc lập có đi tới kết quả kỳ diệu ấy không ? – Chắc chắn  không . Cũng với nhân dân này , nhà Trần đã chiến thắng quân Nguyên – một đế quốc đã dẫm nát các thành trì Châu Âu và Châu Á , Lê Lợi đã chiến thắng quân  Minh và Quang Trung đã chiến thắng quân Thanh .

            …Để có được thắng lợi ngày nay , xương đã chất thành núi, máu đã chảy thành sông , hàng chục triệu người mẹ đã mất con , người vợ goá chồng ,những đứa bé mồ côi và những người phụ nữ không bao giờ biết tới hạnh phúc gia đình . Mặt khác, Đảng là người lãnh đạo thần kỳ trong chiến tranh, nhưng Đảng cũng là tác giả của những phương án kinh tế sai lầm . Đại hội 4 , tổng ngân quỹ có 24 tỷ rúp . Nếu số tiền đó được đầu tư vào phát triển nông nghiệp và cải thiện đời sống thì tình trạng sinh hoạt của số đông dân chúng đã không sa sút nghiêm trọng đến thế . Theo dõi biểu đồ sức khoẻ của thanh niên qua các đợt tuyển quân mười năm qua , chúng ta sẽ rõ con số những người cao dưới 1m50 và nặng 40 ký do thiếu dinh dưỡng lâu ngày . Một sự thực trần trụi không thể nào chối bỏ : giống nòi Việt Nam đang suy kiệt . Có lẽ , chẳng kể tới người, gỗ đá cũng phải rỏ nước mắt vì đau .

            Nhân dân đã âm thầm chịu đựng một cuộc sống thiếu thốn và đau khổ kéo dài . Trong hoàn cảnh khắc nghiệt , trí sáng tạo của nhân dân đã cứu đất nước khỏi cơn nguy hiểm . Chúng ta hãy nhớ lại tình trạng suy thoái trong sản xuất nông nghiệp vì chính sách hợp tác hoá cấp cao đầy lãng mạn . Ai đã phát kiến ra biện pháp khoán ? Chính là dân .Lúc ấy Đảng chưa nhận thức được tình hình thực tiễn nên đã dùng sức mạnh quyền lực cản trở việc thực thi bịên pháp khoán . Hiện tượng tiêu biểu là kỷ luật đồng chí Kim Ngọc bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú .

            Với những lý do trên , việc Đảng phải biết ơn Nhân dân cũng là phải lẽ . Nhưng chúng ta chỉ tuyên truyền cho một mặtcủa  sự việc, mặt kia lại lãng quên . Phải chăng , chính từ những nhận thức thiếu hụt ấy đã nảy sinh ra tâm lý tự mãn và trên mảnh đất tự mãn ấy đã nảy sinh ra thói vô ơn ?

            …BÁO TUẦN TIN TỨC số 39 (332) ngày 30-9-1989 đăng tin :” Một người đàn ông 59 tuổi được giải oan đã được bồi thường 110 triệu yên ( 938.000 đô la) – một khoản tiền kỷ lục mà nhà nước Nhật Bản trả cho một vụ xử sai . Ông Masao Akabôri , là người thứ tư bị án tử hình được giải oan từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai đến nay . Ông được bồi thường 74 đô la mỗi ngày vì bị tù oan 34 năm 8 tháng “ . Ở đất nước ta ,bao nhiêu người bị tù oan và chết oan , nhà nước đã bồi thường ra sao và theo một điều luật nào ?

            Không một ai lên tiếng .

            ….Không một cá nhân , một đảng phái hoặc một giai cấp nào có quyền đặt mình lên trên dân tộc . Đó cũng là một chân lý vĩnh hằng .

            … Trong một thập kỷ qua , những đổi thay của thế giới đã diễn ra với tốc độ bão lốc, biết bao hệ ý thức suy tàn và những quan niệm mới nảy sinh. Bước tiến của loài người tiến bộ vang động khắp các lục địa . Chúng ta ý thức gì về thân phận dân tộc mìnhê"

            …Tôi  rất trọng câu nói của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh :” Dù thế nào các đồng chí cũng không nên uốn cong ngòi bút của mình “ . Câu nói ấy biểu hiện phẩm hạnh của một người cộng sản chân chính . Bởi vì chức trách của nhà văn là chức trách của người cảnh báo trong xã hội . Nhà văn không có sứ mạng đi tìm của cải tiện nghi , làm nô lệ cho dục vọng của chính mình và liếm gót tư tưởng . Nhà văn không thể lấy bất cứ giá trị dởm nào để thay thế cho giá trị chân chính duy nhất : Lòng trung thực trước nhân dân .

            … Giờ đây , làm một nhà văn thật khó khăn . Dân tộc ta đang đứng trước khúc ngoặt của lịch sử .Một thời đại mới đã mở ra lạ lùng và thúc hối . Có nên ve vuốt lòng tự ái của dân chúng hay can đảm vạch ra những hiểm nguy đang chờ phía trước .? Có nên rao giảng một cách vô trách nhiệm rằng một nhân dân anh hùng đã chiến thắng các đế quốc tất yếu sẽ thắng trong mọi lãnh vực , hay hãy kêu lên tiếng kêu cảnh báo rằng những giá trị truyền thống , những phẩm chất tự thân của một dân tộc cần được bổ sung ,hoàn thiện . Rằng những lợi thế đưa một dân tộc tới những chiến thắng trong trận mạc khác hẳn những lợi thế đưa một dân tộc tới những thành tựu trong kinh tế , khoa học kỹ thuật .

            … Sự  đói khổ ,dốt nát , tình trạng sinh hoạt tăm tối và tha hoá cũng là những kẻ thù tàn bạo có thể làm một dân tộc bị huỷ diệt hoặc suy vong . Có lẽ , với địa vị của đất nước ta hiện nay trên bậc thang gía trị toàn nhân loại , mỗi nhà văn cần phải nghĩ ngợi”.

            Tôi vừa chép ra gần trọn bản tham luận của nhà văn Dương Thu Hương đọc tại đại hội lần thứ tư Hội nhà văn Việt Nam họp cuối tháng 10 năm 1989 mà liền sau đó Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ in sao bằng phương tiện rônêô . Còn báo Văn Nghệ của Hội nhà văn thì không hề đăng . Nơi duy nhất đăng tham lụân này là tờ tạp chí Đất Quảng của Hội văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng .

            Những lời trên đây của Dương Thu Hương có chỗ nào là “nội dung không tốt”?

Tôi đọc đi đọc lại mãi ,soi đi soi lại mãi mà không thấy . Tôi chỉ thấy , những dữ kiện chị nêu ra là có thật , những nhận xét của chị là đúng đắn , sâu sắc , và bao trùm tất cả là một tấm lòng yêu thương da diết, một tinh thần trách nhịêm cao của một nhà văn chân chính , một đảng viên cộng sản chân chính đối với dân với nước và với Đảng . Tôi thật không hiểu được vì sao Ban TTVH trung ương lại coi đây là tham lụân có nội dung không tốt và liệt vào loại xấu “? Phải chăng Ban TTVH có đặc quyền đặt ra một chuẩn mực riêng về đúng sai , tốt , xấu để căn cứ vào đó mà phán xét mọi người và tha hồ truyền bá sự phán xét  theo kiểu đặc quyền đó ?

            Tham luận của nhà văn Bửu Tiến nói gì ?

            Đây , anh nói:  

                        …” Đại hội 6 của Đảng ta , vốn gốc “vì dân “ từ khi thành lập , đã đưa ra một phương châm hết sức dân chủ : lấy dân làm gốc , lại định rõ nội dung của phương châm ấy là mọi việc dân biết , dân bàn , dân kiểm tra.

            Đảng đã trải cả tấm lòng với Dân . Dân cũng nên trải cả tấm lòng thành thật với Đảng .

            Và xin bàn .

            Dân biết ư ? Trong thời đại thông tin ngày nay , đúng là từ cuối năm 1986 ,dân bắt đầu có điều kiện biết nhiều hơn về những chuyện trong nước và trên thế giới qua trăm nghìn nguồn thông tin trong nước và ngoài nước . Sách báo trong phe xã hội chủ nghĩa , lại có cả sách báo các nước tư bản . Việt kiều ở các nước cũng hăm hở gửi sách báo về , tìm hiểu sâu hơn quê hương , trao đổi hiểu biết , góp tiếng nói xây dựng quê hương đất nước . Bỗng gần cuối năm 1988 và đầu năm 1989 một số báo trong nước dần dần vắng bóng ( Đối thoại , Truyền thống Kháng chiến , Cánh Én , va gần đây Sông Hương đã im tiếng sau số 39) . Một số báo của Việt kiều yêu nước gửi về cũng bặt tăm .Hoàn toàn không có thông báo chính thức về lý do .

            … Nên mau mau có luật báo chí và xuất bản cụ thể , theo đúng Hiến pháp để vừa đảm bảo trật tự xã hội,  vừa đảm bảo tự do về sách báo xuất bản và để Hiến pháp khỏi bị lãng quên một cách tuỳ tiện .

            Trong mù mờ , Dân chủ cảm thấy hụt hẫng trong mục Dân biết về mọi việc trong nước ta và trên thế giới giữa thời đại gọi là “mở cửa “này .

            Sực nhớ lại đất nước còn tối tăm – trước cách mạng tháng 8 , khi chính phủ Bình dân lên cầm quyền ở Pháp , người dân thuộc địa vẫn có quyền được ra báo chí , chỉ qua một thể thức đơn giản : đăng ký ở Sở báo chí. Một số đảng viên cộng sản và một số người tiến bộ đã ra báo Le travail ( Lao động )  La lutte ( Chiến đấu ) ,Nhành lúa , Dân chúng , đã tố cáo những bất công của chế độ thuộc địa và cũng đã bảo vệ được ít nhiều quyền lợi của người dân lúc đó . Nghĩ rằng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của chúng ta , theo lý thuyết , hơn dân chủ tư sản hàng trịêu lần , không nên có những biểu hiện khó hiểu để người dân so sánh và hoang mang .

            Dân bàn ư ?

            Năm 1956 , khi đất nước gặp khó khăn, dân cũng đã bàn .Nhiều sách báo ra đời bàn về Tự do, Dân chủ . Nhân văn giai phẩm , Đất nước , Trăm hoa . .. Và kết quả của việc “ Dân bàn “ đó là vụ án Nhân văn giai phẩm đã đưa vào tù một số ít người và làm điêu đứng một số người khác , suốt 30 năm trời .

            Người bàn với các bạn về hai chữ Dân chủ hôm nay cũng đã tham gia “ đấu “ nhóm Nhân văn- Giai phẩm , góp một tiếng nói của kẻ “ đánh hôi “ vào số phận điêu đứng của một số anh em cùng nghề …Xót xa trên tất cả là đã đánh vào Tự do , Dân chủ , vì mơ hồ về cái đuôi tư sản của nó mà quên lãng đi giá trị tự thân của Tự do – “giấc mơ ngàn đời của nhân loại “ và của bản thân . Tự mình đánh vào mình . Ân hận đó dày vò suốt 30 năm trời . Thời gian không thể xoá nhoà , chỉ đành “ mang xuống tuyền đài không tan “ mà thôi !

            Dân bàn ư ?

            Năm 1964 trước khó khăn của đất nước và phong trào cộng sản quốc tế , người dân cũng bàn , chủ yếu là một số đảng viên cộng sản . Và kết qủa của việc “ dân bàn “ này cũng là vụ án “xét lại “ cũng đã đưa vào tù một số đảng viên và làm điêu đứng một số đông người khác . Cũng suốt 25 năm trời .

            Là tòng phạm trong vụ đánh Nhân văn - Giai phẩm , là nạn nhân – nạn nhân cũng nhẹ thôi – trong vụ “ xét lại “ ,người bàn về dân chủ hôm nay tha thiết đề nghị Đảng ta có kết luận rõ ràng thoả đáng về hai vụ “ tồn kho “ như những sản phẩm quốc doanh khác từ 20,30 năm nay .Kết luận kịp thời trong giai đoạn đổi mới này chỉ làm sáng tỏ thiện chí dân chủ công khai của Đảng ta , tránh được kết luận của lịch sử mai đây , e rằng không được êm dịu lắm .

           …Giải mối nghi  oan này giữa Đảng và Dân sẽ làm cho dân đỡ khổ tâm mà Đảng cũng đỡ khổ tâm , để lại như những ngày nào, trong kháng chiến trường  kỳ gian khổ , Dân và Đảng kết thành một khối và để từ nay Đảng và Dân dù cho “ Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau “

            Hôm nay , người bàn với các bạn về hai chữ dân chủ, tuổi cũng đã cao , tệ hơn nữa ,sức cũng đã yếu . Ngày còn lại trên mặt đất đếm từng tháng, năm . Nhưng cho đến hơi thở cuối cùng vẫn tin chắc vào xu thế Tự do Dân chủ đang cuộn cuộn dâng lên trên toàn thế giới , một xu thế không thể đảo ngược được .

            Ít khi gặp nhau đông đủ như hôm nay , và e rằng tới đại hội 5 cũng khó lòng gặp lại được , cuối cùng xin có đôi lời tâm sự với các bạn :

-Chào mừng các bạn còn sung sức góp phần tích cực vào đổi mới , vàcòn tuổi kịp thấy đổi mới nở hoa kết quả trên thế giới và trên đất nước đau thương, anh hùng vàrất mến yêu của chúng ta .                                                                                

 -Xin lỗi anh em Nhân văn – Giai phẩm , và , trừu tượng hơn , xin tạ tội với Tự   do, Dân chủ , giấc mơ ngàn đời của nhân loại và của bản thân .

- Xin chúc anh em bị oan khiên trong vụ “ xét lại “ chóng được rửa oan .

- Xin chúc Đảng cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh mà tôi gắn bó suốt đời , một dũng khí chiến đấu để đưa đổi mới đến thành công tốt đẹp ,xây dựng nền Tự do , Dân chủ xã hội chủ nghĩa .                                                     

- Chúc đại hội nhà văn lần thứ tư , đại hội đổi mới thành công tốt đẹp .

-Xin nhận ở đây lời chào vĩnh biệt vui vẻ của tôi .

                                                                    Ngày 26-10-1989

                                                                         BỬU TIẾN   

 

            Quả thật bản tham luận mà tôi cũng vừa chép gần trọn vẹn trên đây đã trở thành lời chào vĩnh biệt , lời trăn trối của nhà văn Bửu Tiến gửi lại cho đồng nghiệp . Gần ba năm sau đại hội , anh đã qua đời . Hoá ra hình ảnh anh trên diễn đàn đại hội thong thả trầm tĩnh đọc những lời này là hình ảnh cuối cùng tôi được thấy về anh . Hôm ở đại hội , từng lời anh rót thẳng vào tim tôi như những giọt nước thanh sạch nhất của thiện chí . của lòng trung thực và can đảm . Sau đó , tôi còn đọc đi đọc lại nhiều lần mỗi khi suy ngẫm về những việc đã xảy ra trong làng văn từ thuở tôi còn niên thiếu , như vụ Nhân văn – Giai phẩm .

            Đêm nay tôi lại đọc lại thật kỹ ,cùng với bản thông báo của Ban TTVH , cũng thật kỹ . Tôi cũng soi đi soi lại mãi , với tất cả sự tỉnh táo , khách quan , vẫn không thấy chỗ nào là “nội dung không tốt “ . Lạ thật . Tôi hoàn toàn không hiểu nổi vì sao Ban TTVH lại liệt bản tham luận này vào loại “ tài liệu xấu “ .

            Bàn về Dân chủ như anh Bửu Tiến đã bàn là xấu ư ? Yêu cầu phải  hiện thực hoá mau các quyền Tự do mà Hiến pháp đã ghi là xấu ư ? Đề nghị Đảng sửa sai đối với những việc oan trái – theo anh Bửu Tiến nghĩ , như vụ “ Nhân văn –Giai phẩm “, vụ “xét lại” – la xấu ư ? Bày tỏ công khai niềm ân hận của mình truớc toàn thể đồng nghịêp tại một đại hội long trọng như thế về việc mình đã tham gia “đánh hôi “vào đồng nghịêp trong vụ Nhân văn –Giai phẩm , lại là xấu ư ? Không ,đó là một hành động ngời sáng về nhân cách. Thử hỏi những nguời lãnh đạo Đảng , sau chủ tịch Hồ Chí Minh , đã có ai dám đứng ra bày tỏ trước dân niềm ân hận về nhừng sai lầm đã gây nên bao tai hại cho dân cho nước ? Chưa . Tôi chưa thấy .

            Và tất cả những lời ấy là những lời trăn trối , tự đáy lòng , của một con người ý thức rõ rệt rằng mình nói những lời này trước khi từ giã cõi đời . Đó là những lời thiêng liêng , phải được lắng nghe một cách trân trọng dù đồng ý hay không đồng ý ,nếu người nghe còn biết thế nào là văn hoá.

            Báo Văn Nghệ của Hội nhà văn không đăng bản tham luận của nhà văn Bửu Tiến . Nơi duy nhất công bố những lời trăn trối của anh với đồng nghiệp là Bản Tin in rônêô của Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ TP Hồ Chí Minh.

            Thông báo 20-3-94 của Ban Tư tưởng Văn hoá còn viết :

“ Quan hệ với một số người trong vụ Nhân văn- Giai phẩm cũ còn có tư tưởng chống đối , đầu năm 1994 , Đỗ Trung Hiếu đã tổ chức cho Phùng Quán từ Hà Nội vào gặp gỡ ở nhà riêng , trong đó có Nguyễn Hộ ,Tạ Bá Tòng , Hồ Hiếu , Bùi Minh Quốc nghe Phùng Quán trình bày lại nội dung vụ Nhân văn – Giai phẩm , từ đó bóp méo toàn bộ sự thật , đả kích Đảng cộng sản Việt Nam “

            Toàn bộ đoạn văn vừa trích là một sự bịa đặt hoàn toàn về dữ kiện , được biểu lộ bằng một giọng miệt thị cố y xúc phạm người khác, lại hàm chứa một dụng ý vu cáo chính trị không che giấu . Thật tôi không thể ngờ người ta lại có thể … thôi , tôi không cần thêm một hình dung từ nào vào chỗ chấm chấm (…) này . Bởi việc này tôi biết rõ 100 o/o và là người trong cuộc .

            Anh Đỗ Trung Hiếu đi Hà Nội đầu năm 1994 vì việc riêng , nhân chuyến đó rất muốn thăm anh  Phùng Quán mà anh chỉ nghe tên và ái mộ qua tác phẩm ,chứ chưa hề quen . Nhưng rồi bận công việc,anh Đỗ Trung Hiếu cũng không thăm anh Phùng Quán được.Còn việc anh Phùng Quán vào Sài Gòn là do một số anh em Mạnh Thường Quân của văn nghệ có lòng ái mộ anh Quán từ lâu ,giống như năm trước ,năm nay lại lo vé và lộ phí để anh vào phía Nam ngao du chuyến nữa . Cũng như mọi lần , vào Sài Gòn lần này anh Phùng Quán vẫn luôn ở nhà một người bạn thân từ thời kháng chiến chống Pháp . Những ngày ấy tôi cũng đang ở Sài Gòn . Nghe tin anh Phùng Quán vào , tôi vội tìm tới ngay , vì tôi rất thiết tha làm sao đón được anh lên Đà Lạt chơi một chuyến . Nhân một hôm ghé thăm anh Nguyễn Hộ ( Năm Hộ ) , tôi báo tin anh Phùng Quán mới ở Hà Nội vào, vì biết anh Năm cũng có lòng ái mộ tác giả “Vượt Côn Đảo “ từ lâu . Anh Năm liền nhờ tôi mời giúp anh Quán hôm nào thư thả lại nhà anh chơi. Và thế là một buổi tối , trong bữa cơm thân mật tại nhà anh Năm Hộ ,có cả các anh Tạ Bá Tòng , Đỗ Trung Hiếu , Hồ Hiếu cùng dự , mọi người đề nghị anh Phùng Quán với tư cách là người trong cuộc , kể vắn tắt về vụ Nhân văn – Giai phẩm . Đây là một nhu cầu thật chính đáng , thật tự nhiên ,thật bình thường . Đối với mỗi sự việc ở đời ,ai chẳng muốn “ dò cho tới ngọn nguồn lạch sông “ . Huống chi đây lại là một việc liên quan đến số phận hàng trăm người, có cả những cán bộ cách mạng kỳ cựu  cùng rất nhiều văn nghệ sĩ trí thức nổi tiếng , nhiều người là đảng viên cộng sản . Mấy khi có dịp gặp được người trong cuộc để mà hỏi . Vả lại đây cũng là để thực hiện nghiêm túc nguyên tắc dân biết dân bàn dân kiểm tra mà Đảng đề ra mà thôi , và theo nguyên tắc này thì , trừ các bí mật quốc gia , người dân có quyền biết và bàn về mọi vấn đề ,có biết có bàn thì mới giám sát , kiểm tra được chứ . Huống nữa , đối với vụ Nhân văn- Giai phẩm , suốt mấy chục năm chúng tôi chỉ được tiếp nhận có một chiều thông tin . Nhờ có đổi mới , nay mới có điều kiện để tìm hiểu và tiếp nhận một chiều thông tin nữa . Còn thông báo 20-3-94 của Ban TTVH viết rằng : “ Phùng Quán” bóp méo toàn bộ sự thật , vu khống , đả kích Đảng cộng sản Việt Nam “ ,thì hãy bình tĩnh xét xem , chắc gì người bóp méo ,vu khống, đả kích là Phùng Quán mà có khi ngược lại cũng nên.

            Chẳng hạn , buổi tối hôm ấy anh Phùng Quán cho chúng tôi biết anh Nguyễn Hữu Đang ,người được coi là cầm đầu nhóm Nhân văn- Giai phẩm , cũng chính là người đã từng đảm nhiệm chức trách trưởng ban tổ chức ngày 2-9-1945 – ngày Độc lập . Tư liệu này đã được công bố trên tạp chí “ Nghiên cứu lịch sử “ năm 1990 ,số đặc biệt kỷ niệm 45 năm cách mạng tháng tám . Đấy là sự thật lịch sử hay anh Phùng Quán bóp méo “ , “ vu khống “ ? Chẳng lẽ mấy cái công văn của Ban tổ chức ngày Độc Lập mà anh Nguyễn Hữu Đang ký ngày 31-8-1945 lại do Tạp chí Nghiên cứu lịch sự bịa ra rồi chụp ảnh in lên báo hay sao ?

            Bao lâu nay chúng tôi vẫn được phổ biến rằng vụ Nhân văn-Giai phẩm là một “ vụ án chính trị “ , nên đề nghị anh Phùng Quán kể rõ hồi đó anh hoạt động chính trị thế nào mà bị trừng trị ? Anh Quán cho chúng tôi biết anh chẳng làm gì gọi là hoạt động chính trị , anh chỉ sáng tác . Anh kể anh đã viết tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo “ thế nào , làm thơ ra sao , trong vụ Nhân văn –Giai phẩm , anh bị đánh đòn rất nặng chỉ vì hai bài thơ ,bài Lời mẹ dặn và bài Chống tham ô lãng phí “.Người viết bài kịch liệt,dữ dằn nhất,dùng những lời lẽ độc địa nhất trên báo Nhân Dân đánh bài"Lời mẹ dặncủa anh là Trúc Chi tức Hoàng Văn Hoan , dưới hình thức một bài thơ nhan đề :“Lời mẹ dặn , thật hay không ?" ký tên Trúc Chi , đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 24-11-1957 , sau in lại trong tập Một đôi vần “ – thơ Hoàng Văn Hoan – nhà xuất bản Việt Bắc –1976 .

            Đấy là sự thật hay “ bóp méo “ , “vu khống “?

            Tự nhiên , tôi không thể không đặt vấn đề : giữa Phùng Quán và Hoàng Văn Hoan , ai trung thành với Tổ quốc , với Cách mạng ? Câu trả lời đã quá rõ . Hoàng Văn Hoan đã bị kết án tử hình vắng mặt vì tội phản quốc .  

            Bài Lời mẹ dặncủa Phùng Quán có những câu mà rất nhiều người thuộc thế hệ tôi ở miền Bắc và cả ở miền Nam ,nhất là vùng đô thị, đều lấy làm vô cùng tâm đắc:

                        Yêu ai cứ bảo là yêu

                        Ghét ai cứ bảo là ghét

                        Dù ai ngon ngọt nuông chiều

                        Cũng không nói yêu thành ghét

                        Dù ai cầm dao doạ giết

                        Cũng không nói ghét thành yêu

            Tinh thần trung thực đến tận cùng này , 30 năm sau , tôi mới gặp lại trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ 6 :” Nhìn thẳng vào sự thật , đánh giá đúng sự thật , nói rõ sự thật “ .Muốn nhìn thẳng vào sự thật , đánh giá đúng sự thật , nói rõ sự thật thì cái gốc là phải thật trung thực , không vì bất cứ một sự đe doạ , cám dỗ nào mà nói chệch đi một ly . Ba mươi năm trước , Phùng Quán đã dõng dạc tuyên ngôn thành thơ cái tinh thần rất cộng sản, rất nhân bản này .

                        Tôi muốn làm nhà văn chân thật

                        Chân thật trọn đời

                        Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

                        Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

                        Bút giấy tôi ai cướp giật đi  

                        Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá .

                                    (PHÙNG QUÁN – LỜI MẸ DẶN –1957 )

            Tinh thần này , 30 năm sau tôi mới gặp lại trong lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu với các trí thức , văn nghệ sĩ tại Hà Nội tháng 10-1987 :” Dù thế nào , các đồng chí cũng không được uốn cong ngòi bút của mình “.

            Trong bài thơ “ Chống tham ô lãng phí “ ,Phùng Quán viết :

                        Trung ương Đảng ơi !

                        Lũ chuột mặt người chưa hết

                        Đảng lập đội quân trừ diệt

                       - Có tôi!

                                  đi trong hàng ngũ tiền phong

            Tinh thần này , gần 40 năm sau, tôi mới gặp lại sự hưởng ứng trong lời Tổng bí thư Đỗ Mười trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên tại cuộc họp Quốc hội ( Thanh Niên ngày 16-12-1993)

            THANH NIÊN – Dạ thưa , trong thảo luận vừa qua , có một số đại biểu Quốc hội cho rằng Nhà nước bất lực trong việc chống tham nhũng . Tổng bí thư nhận xét gì về các ý kiến đó ?

            TỔNG BÍ THƯ ĐỖ MƯỜI -  Nhà nước bất lực , nhưng bây giờ nhà nước chủ trương dân phải làm . Chúng ta đã chiến thắng được trên chiến trường . Bây giờ chính phủ ra lệnh và toàn dân đứng dậy thì tham nhũng không thể chạy được . Chính phủ ra lệnh mà dân không hưởng ứng thì mới khó . Bây giờ chính phủ ra lệnh thì toàn dân đứng dậy ,nhất là đội quân thanh niên phải xung kích đi đầu .

            Gần bốn mươi năm trước, người thanh niên Phùng Quán , nhà thơ- chiến sĩ Phùng Quán đã thẳng thắn vạch mặt :” những con chó sói quan liêu ,nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng “ * , những kẻtiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả “ * . Anh yêu cầu trung ương Đảng lập đội quân chống tham nhũng và anh nguyện làm người lính xung kích đi tiên phong trong đội quân ấy .Thử hỏi , gần 40 năm qua ,tham nhũng giảm đi hay tăng lên ? Rõ ràng là tăng lên , tăng một cách khủng khiếp , trở thành “quốc nạn” , nó là “ Việt gian chính hiệu “- như nhà báo Trần Bạch Đằng đã định nghĩa ,nó đã có những dấu hiệu của Mafia ,một thứ tội phạm có tổ chức quy mô liên kết giữa những thế lực ngầm thao túng xã hội đến chóng mặt. Tình trạng nguy hiểm đó là tại đâu ? Tại Dân hay tại Đảng ? Tại đảng viên thường hay tại các cấp uỷ đảng , tại cơ sở , tại địa phương hay tại trung uơng ? Những câu hỏi ấy chưa được thảo luận đến nơi đến chốn và chưa có lời đáp rõ ràng .

            Trong khi đó ,thì người thanh niên Phùng Quán , nhà thơ-chiến sĩ Phùng Quán tự nguyện làm người lính tiên phong trong đội quân chống tham nhũng lại bị đầy đoạ suốt 30 năm .Ba mươi năm tác phẩm anh không được in , anh phải viết dưới những tên khác ,bạn bè gọi là viết văn chui. Nhiều năm khốn quẫn quá anh buộc lòng phải đi câu cá trộm ở Hồ Tây , không có tiền phải uống rượu chịu dài dài của một bà bán quán nghèo tốt bụng .” Cá trộm – Rượu chịu – Văn chui, đó là sáu tiếng tóm tắt dồn nén đoạn đời 30 năm đằng đẵng bị lưu đày ngay trên đất nước mình của Phùng Quán , chỉ vì hai bài thơ Lời mẹ dặn “ và “Chống tham ô lãng phí “ . Tất cả những chuỵên này đều đã được thuật rõ trong bài “ Nhà văn Phùng Quáncủa tác giả Văn Xương , đăng trên báo Người Hà Nội số giáp Tết Giáp Tuất –1994 . Bản thân Phùng Quán , trong một bài đăng trên báo Nông dân Việt Nam số Tết Quý Dậu – 1993 đã kể về mình thế này :” …tôi tham gia nhóm Nhân văn – Giai phẩm với các bài thơ  Chống tham ô lãng phí , Lời mẹ dặn . Bị kết tội chống Đảng , chống chế độ , đưa ra khỏi quân đội , khai trừ khỏi Hội nhà văn , đi lao động cải tạo gần mười lăm năm và tước quyền in sách trong 30 năm . “

            Buổi tối ấy ở nhà anh Năm Hộ , Phùng Quán chỉ kể sự thật đời anh văn anh, chứ 

“ bóp méo “ gì , “ vu khống “ , “ đả kích “ ai ?

            Tôi chẳng thấy anh đả kích ai cả , trong khi chỉ thấy một số người lãnh đạo Đảng tự đả kích vào mình bằng thói nói một đằng làm một nẻo do đó chính họ đã bôi nhọ Đảng . Tôi cũng hết sức lấy làm lạ rằng buổi tối ấy ở nhà anh Năm Hộ không hề có ai là cán bộ của Ban TTVH , vậy mà rồi Ban cũng thản nhiên tự cho mình cái quyền phát ra những thông tin xúc phạm nhà văn Phùng Quán như thế . Đây là lối cư xử xuất phát từ thứ tư tưởng gì , văn hoá nào vậy ? Và ai đã “ bóp méo” sự thật , ai đã “ vu khống “ “ đả kích “ ai ở đây ? Nhà văn Phùng Quán đã được Hội nhà văn phục hồi hội tịch từ tháng 2 năm 1988 . Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội3 tập của anh xuất bản năm 1987 in 60 ngàn bản bán hết , được tặng giải thưởng văn học thiếu nhi , dựng thành phim được giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim. Ban TTVH có biết điều đó không ?  Chẳng lẽ một nhà văn như Phùng Quán lại  không đuợc quyền tiếp xúc ,trò chuyện với bạn đọc ? Mà bạn đọc là những ai ? Chúng tôi , những người hỏi chuyện anh Phùng Quán đêm ấy, từ anh Năm Hộ trở xuống, người nhiều kẻ ít đều đã đóng góp xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc , chẳng lẽ chúng tôi không đuợc quyền hỏi nhà văn Phùng Quán về mọi chuyện , kể cả chuyện Nhân văn- Giai phẩm ? Mà cũng có thể khỏi cần viện đến các danh xưng nhà văn ,cán bộ cựu kháng chiến , chỉ với tư cách công dân thôi , chẳng lẽ các công dân Phùng Quán, Nguyễn Hộ , Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Hồ Hiếu , Bùi Minh Quốc  lại không được quyền ngồi với nhau trò chuyện bàn bạc về bất cứ vấn đề gì , theo nguyên tắc dân biết , dân bàn ư ? Không có đại dịên nào của Ban TTVH trong buổi trò chuyện ấy,vậy Ban TTVH làm cách nào biết được chúng tôi đã hỏi những gì và nhà văn Phùng Quán đã nói những gì ? Hay Ban TTVH dựa vào báo cáo láo của một kẻ nghe trộm nào đó ?

            Tôi không thể không tự hỏi :

           Ai ? Ai đã đầy đoạ người chiến sĩ tiên phong chống dối trá, chống tham nhũng Phùng Quán suốt 30 năm ? Ai? Phải chăng thủ phạm hành hạ anh chính là bọn đạo đức giả lá mặt lá trái , bọn tham nhũng , bọn thẻ đỏ tim đen phản bội Nhân Dân , phản bội Tổ Quốc , những Hoàng Văn Hoan đang còn giấu mặt trong bộ máy Đảng và Nhà nước ? Lịêu Ban TTVH có thể trả lời cho tôi câu hỏi này ?

           Thông báo 20-3-94 của Ban TTVH còn viết :

           “ Tài liệu này ( tức bài “ Quan điểm và cuộc sống “) của Nguyễn Hộ đã được Tạ Bá Tòng , Đỗ Trung Hiếu , Lê Đình Mạnh , Bùi Minh Quốc , Nguyễn Xuân Tụ ( tức Tú Xuân , Hà Sĩ Phu ) tích cực tham gia gợi ý và tán phát “ .

           Tôi bắt đầu nghe tên anh Nguyễn Hộ ( Năm Hộ ) từ khi được biết về các hoạt động của Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ TP Hồ Chí Minh . Hồi đó ,với tư cách là chủ tịch Hội văn nghệ Lâm Đồng ,tôi đã gửi công văn cho CLB đề nghị trao đổi thông tin .Qua tờ báo “ Truyền thống kháng chiến “ và một số tài liệu in rônêô , tôi thấy hoạt động của CLB là tích cực , bổ ích và rất cần thiết cho đổi mới , thể hiện được nguyện vọng bức xúc về dân sinh dân chủ của quần chúng , đi đầu là những người kháng chiến cũ mà nòng cốg là các đảng viên cộng sản hầu hết đều có một quá trình chiến đấu hy sinh đáng tin cậy . Tôi có thiện cảm , quý trọng anh Năm Hộ từ đấy , dù chưa được gặp anh .

           Rồi tôi nghe tin anh bị bắt . Rồi nghe nhiều tin đồn đại về tội này tội nọ của anh . Rồi nghe có cả sự phổ biến miệng trong nội bộ về những tội ấy .

           Mãi đến khoảng đầu mùa thu năm 1993 , tôi có công việc thường về Sài Gòn, mới dành được thời gian đến thăm anh . Trò chuyện với anh , tôi càng thấy anh có một quá trình hoạt động cách mạng đáng khâm phục , tình tình bộc trực cởi mở dễ gần , vẫn nguyên cái chất người công nhân Ba Son rất quý như thuở nào . Tôi càng cảm thấy gần gũi anh hơn vì anh cũng có một cảnh ngộ giống tôi , hai vợ chồng anh để con lại miền Bắc cùng về chiến đấu chống Mỹ tại một chiến trường ác liệt nhất của miền Nam ,và chị Năm đã anh dũng hy sinh ngay tại Tổng nha cảnh sát Sài Gòn trong chiến dịch Tết Mậu Thân .

           Những lần gặp gỡ giữa tôi với anh đều là do tôi chủ động đến thăm anh , chứ chẳng phải là anh có ý lôi kéo tôi hoặc do anh Đỗ Trung Hiếu móc nối để thành một tổ chức gì đó , mưu cầu một cái gì đó . Mà gặp nhau rồi , anh cũng biết tính tôi ,tôi là người làm thơ luôn muốn gắn bó với nhân dân ,tôi thích gặp gỡ trao đổi ý kiến với mọi người để được hiểu mọi người và được tiếp nhận từ mọi người những gì làm phong phú sự hiểu biết và đời sống của mình  . Tôi thích tự do , không thích ở trong một tổ chức nào cả , vàtôi thích câu thơ này của nhà thơ Nguyễn Duy

                                   Những người tốt cần liên hiệp lại

           Phải , xã hội đang đầy rẫy bất công, áp bức , độc ác , dối trá . Tất cả những con người lương thịên không thể không liên kết lại để chống lại một cách hiệu quả tình trạng đó .Những người có cùng cảnh ngộ , cùng quan điểm , cùng chí hướng gặp gỡ trao đổi ý kiến với nhau là việc bình thường . Nếu tất cả những người lương thịên mỗi người chỉ trơ vơ như một ốc đảo thủ phận cốt giữ yên lấy thân mình để mặc cho những bất công áp bức , độc ác , dối trá hoành hành thì xã hội sẽ ra sao ? Những  lần gặp nhau , câu chuyện giữa tôi với anh Năm Hộ thường là chuyện về đất nước mình , dân mình, Đảng mình, tình hình và lối ra của đất nước . Tôi tiếc là hoàn cảnh gay go vì kiếm sống đã không cho phép tôi gặp gỡ anh nhiều để xin anh cho ghi một đoạn hoặc một cuốn hồi ký cách mạng .

           Biết tôi thân với Hà Sĩ Phu ( tên thật là Nguyễn Xuân Tụ , còn có bút danh là Tú Xuân ) anh Năm Hộ bảo tôi lúc nào có dịp Hà Sĩ Phu xuống Sài Gòn thì mời giúp tới chơi , vì anh đã đọc một số bài củ Hà Sĩ Phu và thấy rất tâm đắc .Một lần, tôi đưa Hà Sĩ Phu lại thăm anh , được anh mời cơm và sau đó đọc cho hai chúng tôi nghe bài   “ Quan điểm và cuộc sống “ anh mới viết nháp xong . Anh đề nghị chúng tôi góp ý kiến . Tôi và Hà Sĩ Phu đã góp với anh những ý kiến của mình . Sự việc chỉ có thế . Ban TTVH viết rằng tôi và Hà Sĩ Phu “ tích cực tham gia gợi ý “ là thêm thắt tô đậm sự việc nhằm một mục tiêu gì đó . Còn tôi, tôi thấy việc chúng tôi góp ý kiến với bài viết của một người khác khi người ta yêu cầu là quá đỗi bình thường .Huống nữa , đây lại là yêu cầu của anh Năm Hộ mà chúng tôi mến phục . Riêng tôi, nếu  như anh Năm Hộ có tin cậy mà đề nghị tôi chấp bút lại hoặc sửa sang câu chữ giúp anh , tôi sẵn sàng làm ngay , vì tôi thấy việc ấy có ích , cốt sao giúp anh diễn đạt ý mình có hiệu quả nhất , lập luận chặt chẽ sáng sủa nhất , gạt bỏ triệt để những chỗ có thể bị bóp méo xuyên tạc . Nhưng anh Năm không nhờ tôi việc ấy .

           Bẵng đi một thời gian , khoảng sau Tết Giáp Tuất ( 1994) chừng nửa tháng , một hôm tôi ghé thăm anh Năm Hộ. Anh cho biết đã hoàn chỉnh bài viết kịp gửi cho hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng và sao chụp tặng một số bạn bè hoặc những ai muốn tìm hiểu quan điểm của anh. Anh tặng tôi một bản và tặng Hà Sĩ Phu một bản nhờ tôi chuyển . Bấy giờ tôi mới có dịp đọc kỹ , bằng mắt, bài viết của anh .Đi đâu , gặp bạn bè ,tôi cũng giới thiệu và nếu họ thích , thì sẵn sàng cho mượn đọc và sao chụp . Việc ấy có tội vạ gì ? Tôi cho là hoàn toàn bình thường cái việc những con người trao đổi với nhau những suy nghĩ bằng giấy trắng mực đen .Ai đó miệng thì lớn tiếng đề cao trí tuệ mà bàn tay lại vươn ra khắp chốn ngăn cản sự giao lưu bình thường ấy giữa các công dân trong xã hội thì chỉ là bịp bợm . Còn bao giờ nhà nước đưa ông Nguyễn Hộ ra xét xử và có phán quyết của toà án rằng bài viết “Quan điểm và cuộc sống” của ông là một chứng cứ phạm tội , nghiêm cấm mọi công dân đọc và truyền bá, thì khi ấy tôi sẽ nghiên cứu va góp bàn về việc xét xử đó .

           Đêm đêm , vẫn một mình tôi với ngọn đèn , thắp bằng lửa của chính tim mình .

           Dưới ánh đèn , tôi lần theo từng hàng chữ – những dòng tự thuật của ông Nguyễn Hộ .Tôi muốn mò tìm ,muốn hình dung, dưới mỗi chữ kia , bao nhiêu biến cố ,bao nhiêu trải nghịêm dồn chứa , cả một cuộc đời cách mạng của người công nhân xưởng đóng tàu Ba Son xưa, rồi vào tuổi gần tám mươi phải chịu hai lần bi còng tay bởi cái chế độ mà mình và gia đình mình đã góp xương máu tạo dựng , và rốt cuộc đành phải thốt lên :

                    “ Tôi làm cách mạng trên 56 năm, gia đình tôi có hai liệt sĩ :Nguyễn Văn Bảo (anh ruột ) – đại tá quân đội nhân dân Việt Nam , hy sinh ngày 9-1-1966 trong trận ném bom đầu tiên của quân xâm lược Mỹ vào Việt Nam ( vào Củ Chi ); Trần thị Thiệt (vợ tôi ) –cán bộ phụ nữ Sài Gòn – bị bắt và bị đánh chết tại Tổng nha cảnh sát hồi Tết Mậu Thân (9-1968) , nhưng phải thú nhận rằng chúng tôi đã chọn sai lý tưởng : cộng sản chủ nghĩa . Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng cộng sản ấy , nhân dân Việt Nam đã chịu đựng hy sinh qúa lớn lao , nhưng cuối cùng chẳng được gì , đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu , nhân dân không có ấm no hạnh phúc , không có dân chủ, tự do . Đó là điều sỉ nhục.”

           Ai có thể hiểu ông đã phải vật vã trăn trở đến thế nào , phải can đảm đến thế nào, phải có nội lực tinh thần và đạo đức mạnh mẽ đến thế nào mới tự bứt phá nổi những ràng buộc kinh niên vô hình ở nơi chính mình , để mà viết ra những lời ấy , trong đớn đau và thư thái .

           Với tôi, ông đã là một hiện tượng, nhìn từ góc độ văn chương lẫn góc độ xã hội học , một hiện tượng rất đáng rất cần được suy ngẫm nghiêm túc . Tôi thấy ở ông đã có sự hội tụ vào hàng tiêu biểu nhất của cả hai yếu tố dân tộc và giai cấp , khát vọng giải phóng dân tộc , giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong ông là nảy sinh từ sự thấm thía tận xương tuỷ thân phận tủi nhục của người dân mất nước , người công nhân làm thuê bị áp bức bóc lột tàn bạo , toàn bộ sự thôi thúc bên trong ấy , chứ không phải sự suy nghĩ tư bịên nào, từ thuở thanh niên đã đưa ông trở thành người cách mạng ,người cộng sản .Trên con đường cách mạng mình đã chọn , ông cùng với vợ mình luôn đứng ở tuyến đầu của tuyến đầu , mũi nhọn của mũi nhọn , và cứ thế đi trọn con đường đó cho đến ngày toàn thắng. Khi Đảng cầm quyền trên cả nước , ông thuộc vào hàng những người có điều kiện để hưởng đặc quyền đặc lợi của lớp người cầm quyền . Không rõ ông đã hưởng được bao nhiêu ,nhưng cứ nhìn vào thực tế đã diễn ra ,nếu thâm tâm chỉ muốn hưởng thụ thì hẳn ông đã ứng xử cách khác , cái cách mà trước đây gần một trăm năm nhà văn Nga vĩ đại Antôn Sêkhốp đã miêu tả thế này :

                     “Nhìn thấy và nghe thấy mọi người nói dối , vàđể cho thiên hạ bảo anh là  ngu xuẩn chỉ vì anh đã nghe lời dối trá ấy , nhẫn nhục chịu đựng những sự lăng mạ , khinh miệt , không dám nói thẳng rằng anh đứng về phía những người trung thực , yêu tự do . Và chính anh cũng nói dối , cũng nhăn nhở cười , chỉ cốt vì một chức tước hèn mọn nào đo chỉ đáng giá mấ đồng xu …”

           Với ông thì không phải là “ một chức tước hèn mọn nào đó chỉ đáng giá mấy đồng xu “. Nó hoàn toàn có thể là , dù đã về hưu ,chỉ với cái ghế chủ nhiệm Câu lạc bộ cây cảnh thôi , cũng đã dồi dào bổng lộc gấp triệu lần . Nhưng ông đã không chọn lối sống ấy . “Không, không thể sống mãi như thế được!”- tôi trích nốt cái mệnh đề kết thúc đoạn văn trên của Sê Khốp , cách đây gần một thế kỷ , nhà văn Nga vĩ đại đã kêu lên như thế với toàn nhân loại để lay động ở mỗi người cái khát vọng sống “ cho ra cái giống người “ ( Tú Xương)

           Phải chăng , ở Nguyễn Hộ cũng đã vang lên cái tiếng kêu ấy của Sê Khốp ,dù có thể ông chưa đọc đoạn ấy của Sêkhốp.

            Những gì Nguyễn Hộ đã làm đã viết từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6 cho thấy ông có sự lựa chọn dứt khoát và minh bạch của mình : Nói những điều mình nghĩ và làm những điều mình nói. Âu đó cũng là cái chất công nhân Ba Son – chất vàng ròng của cách mạng , mà những năm ngồi trên ghế cầm quyền không làm mai một đi được trong ông .

            Đọc bài “Quan điểm và cuộc sốngcủa Nguyễn Hộ , người ta có thể đồng ý hoặc không đồng ý ,toàn bộ hoặc từng điểm ,có thể và cần phải thảo luận ,tranh cãi với ông ,nhưng riêng tôi, tôi tin chắc trăm phần trăm rằng những dòng chữ ông viết ra đây là chính những suy nghĩ máu thịt của ông , những chiêm nghiệm sâu thẳm sau 56 năm hiến trọn mình cho cách mạng , cuộc cách mạng mà ông đã góp phần tạo dựng và trong chừng mực nào đó đã góp phần dẫn dắt ,ông đã sống trọn cuộc cách mạng này trong cả hào quang lẫn bùn nhơ của nó .

            Cách đây 24 năm ,năm 1970 ,nhà thơ Việt Phương đã viết :

                  Ta đã thấy những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao

                 Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao

                                                ( CỬA MỞ- VIỆT PHƯƠNG )

            Bao nhiêu người quyền thế hồi đó đã điên lên vì có kẻ dám phát lộ “những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao. Tập thơ “ Cửa mở “ bị đánh đòn nặng và tác giả Việt Phương nếu không phải là môt cán bộ cao cấp làm viêc ở phủ thủ tướng thì chắc đã chịu số phận như Phùng Quán .

            Bây giờ thì những vết bùn ấy , người dân thường bằng mắt thường hàng ngày từ vỉa hè nhìn ra cũng thấy . Nhân dân đúc kết tình hình xã hội hiện đại bằng cách lặp lại sự đúc kết ngắn gọn đơn giản của người xưa : “Thượng bất chính hạ tắc loạn “.

            Dân dã thấy như thế , thì ông Nguyễn Hộ không lẽ không thấy . Ở cương vị và tuổi tác của ông , trong toàn bộ các mối quan hệ của ông, ông còn thấy rõ hơn ,toàn diện hơn . Hoá ra cách mạng là sự nghiệp của quần chúng khi cần đổ máu , còn đặc quyền đặc lợi và độc quyền thống trị là sự nghiệp của một thiểu số đảng viên cộng sản kém tài kém đức khi thanh bình. Vì sao ? Vì sao lại xảy ra sự lộn ngược quái đản đó ? Cội nguồn là từ đâu ? Phải dò cho tới ngọn nguồn lạch sông “ của tấn bi kịch khổng lồ này . Bằng tất cả 56 năm đi làm cách mạng , tất cả bản lĩnh trui rèn được trong máu lửa , tất cả phẩm cách và tri thức chung đúc được của một người cộng sản từ nhân dân mà ra và nguyện trọn đời vì dân, ông quả quyết đi dò…

            Và bây giờ ông viết ra ,trong Quan điểm và cuộc sống “ , những gì mình dò thấy .

            Liệu ông có mưu đồ gì với bài viết này ? Chẳng biết  . Mà có “ mưu đồ “ gì chăng nữa , nếu thật sự vì dân vì nước , thì tốt chứ sao .

            Nhưng tôi không tin rằng ông có mưu đồ gì , ngoài cái nhu cầu bức xúc sâu xa của lương tâm : phải nói ra cho được ,viết ra cho được những điều mình nung nấu . Là người làm văn chương , kể cũng đã gần bốn chục năm ,tôi biết rõ nhu cầu này , và tôi tri âm với ông điều này . Ông đã 78 tuổi . Mưu đồ gì ở tuổi ấy,cái tuổi đã nghe rõ hơi lạnh của thiên thu( Charles de Gaulle ) .Ở tuổi ấy thì mưu đồ quan trọng nhất , thiêng liêng nhất hẳn chỉ có thể là nói ra cho được điều cần nói , để đến lúc nào đó ra đi , lương tâm được thanh thản . Tôi đoán thế .

            Điều sau đây thì tôi không chỉ đoán , mà còn tin chắc rằng , Nguyễn Hộ không phải là một hiện tượng đơn nhất , một hiện tượng ngoại lệ trong Đảng CSVN . Và không chỉ trong Đảng . Biết bao người một đời cống hiến, một đời tận tuỵ vì cách mạng , cũng có cùng tâm trạng cùng suy nghĩ như ông , nhưng vì lẽ này lẽ khác , chưa nói ra . Một sự chuyển động mới trong tâm trạng , trong tư duy của dân tộc và giai cấp rất có thể lại  quy tụ  ở nơi ông , ở nhiều người như ông, thuộc thế hệ ông và cả những thế hệ kế tiếp .

            Giá có tài , tôi sẽ lấy ông làm nguyên mẫu cho nhân vật trung tâm của một bộ tiểu thuyết về cách mạng .

           

            Đà Lạt , 27-7-1994

 

MẤY DÒNG VIẾT THÊM

 

            Tôi vừa viết xong bài này thì nghe tin anh Nguyễn Hộ ( Năm Hộ ) đã về nhà , liền gọi điện hỏi thăm anh . Rồi tôi cùng Hà Sĩ Phu xuống Sài Gòn , và chiều 6-8-1994 đã tới thăm anh tại nhà riêng ở 11 Trần  Quốc Thảo Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh .

            Anh Năm cho chúng tôi biết , anh cảm thấy sức khỏe quá suy sụp , có thể chết bất đắc kỳ tử tại nơi giam giữ bí mật , nên nhất quyết đòi về nhà để các con các cháu còn được chăm sóc lúc cuối đời và nếu chết chúng còn được thấy mặt , chứ không thể chết âm thầm ở nơi giam giữ mà con cháu không biết , không thấy . Hồi mẹ các cháu bị đánh chết trong nhà tù Tổng nha , các cháu đã không được thấy mặt , xác bị dập vùi nơi đâu cũng không sao tìm được. Nay không thể để tái diễn một lần nữa nỗi đau nỗi hận ấy cho con cháu .

            Anh Năm đa về nhà ngày 25-6-1994 sau khoảng hai mươi hôm điều trị tại bệnh viện 30-4 của công an . Nghe tin anh về, bạn be bà con , đồng chí cũ thường xuyên đến thăm . Ai chưa đến được thì thăm hỏi qua điện thoại .Lúc đầu có 4 công an viên chia làm 2 kíp canh giữ trong nhà anh . Cách đây ba tuần ,anh Năm yêu cầu , công an đã rút ra giám sát từ bên ngoài.  

            Tôi cũng vừa đuợc đọc “Đơn kháng cáo “  viết ngày 30-5-1994 của anh Phùng Quán gửi Quốc hội và các cơ quan pháp luật yêu cầu đưa ra xét xử anh về những tội mà thông báo 20-3-1994 của Ban Tư tưởng Văn hoá trung ương đa nêu. Anh xin chịu án khổ sai chung thân nếu có đủ bằng chứng xác thực để kết tội . Nếu không có đủ các bằng chứng ấy, anh sẽ kiện lại cơ quan soạn ra và tán phát thông báo trên về tội đã bịa đặt bóp méo toàn bộ sự thật , vu khống,  xúc phạm nghiêm trọng đến tư cách công dân và nhà văn của anh .

 

            TP Hồ Chí Minh 10-8-1994

 

 

 

 

THƯ NGỎ

 

GỬI GIÁO SƯ TIẾN SĨ PHAN ĐÌNH DIỆU ,

 UỶ VIÊN ĐOÀN CHỦ TỊCH ỦY BAN TRUNG ƯƠNG

 MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM KHOÁ IV

 VÀ PHÓ TIẾN SĨ HÀ SĨ PHU , CÁN BỘ VIỆN KHOA HỌC

VIỆT NAM ĐÃ NGHỈ HƯU

 

           

            Đà Lạt , ngày 26 tháng 10 năm 1994

            Kính gửi hai anh Phan Đình Diệu , Hà Sĩ  Phu

 

            Tôi đã được đọc thư của hai anh trao đổi ý kiến với nhau , hẳn cũng là để mọi người cùng biết , cùng nghĩ , bởi hai anh đâu có bàn chuyện riêng , mà bàn chuyện quốc sự từ vĩ mô đến vi mô .

            Tôi vốn là người đọc ngưỡng mộ hai anh bấy lâu , nhưng cũng còn chút may mắn chưa bị bắt , bị soát nhà hốt tài liệu như thầy giáo Đỗ Tư Nghĩa . Tôi đọc không chỉ hai anh mà đọc cả văn kiện của Đảng lẫn Nguyễn Kiến Giang , Lữ Phương , Nguyễn Khắc Viện , Hoàng Minnh Chính, Dương Thu Hương ,Nguyễn Thanh Giang , Nguyễn Hộ, Bùi Tín , Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín , Trần Minh Thảo , Tiêu Dao Bảo Cự , Nguyên Phong Hồ Hiếu .v.v. nói chung là các tác giả có quan điểm dị biệt hoặc đối lập với đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam . Theo cách nhìn của anh Hà Sĩ Phu thì tôi thuộc vào những chỗ

 “ có nhân cách nhất , đáng kính trọng nhất “ . Tôi chưa dám tự nghĩ về mình như thế , tôi chỉ làm một việc rất đơn giản , rất bình thường là học tập các đồng chí đảng viên , gương mẫu thực hiện nguyên tắc do Đảng đề ra :” Dân biết, dân bàn …”

            Vậy nên khi thấy hai anh bàn chuyện quốc sự ,tôi cũng mạo muội cầm bút góp bàn  Có gì đường đột giữa thời buổi giao lưu kinh tế , văn hoá tư tưởng mạnh mẽ này xin hai anh lượng thứ .

            Đọc thư hai anh , ý nghĩ đầu tiên của tôi là : chuyện quốc sự hai anh đang bàn , phải chi được tiến hành trên báo chí , ít ra trên tờ báo của Mặt trận , thì cái ích lợi cho Dân cho Nước sẽ nhân lên gấp bội . Ước gì tôi đủ can đảm sống theo Hiến pháp , nghĩa là tự mình thực hiện quyền “ Tự do báo chí” của công dân mà Hiến ph áp đã long trọng khẳng định , ắt tôi lập ra ngay một tờ báo tư ( như các đảng viên cộng sản tiền bối đã làm dưới chế độ thuộc địa ) , và tờ báo của tôi nhất định phải t rình làng trình nước bằng cuộc bàn thảo quốc sự rất bổ ích giữa hai anh .

            Nhưng thôi, trong khi chờ đợi các quyền tự do bánh vẽ (xin mượn lại hai chữ Bánh vẽ của luật sư Nguyễn Hữu Thọ và nhà thơ Chế Lan Viên ) ghi trên Hiến pháp trở thành bánh thật trong đời thường , chúng ta hãy tạm trò chuyện bằng thứ báo photocopy manh mún và chậm chạp  này vậy .

            Nói đến chuyện văn minh hoá dân chủ hoá đất nước thì có bao nhiêu điều cần nói , nhưng theo tôi , điều tiên quyết là phải chấm dứt ngay việc áp đặt sự lựa chọn ý thức hệ của một bộ phận , một thiểu số lên toàn dân tộc . Dùng một Quốc hội do Đảng ( thực chất là do một số ít người cầm quyền trong đảng ) sắp xếp dàn dựng để đưa sự lãnh đạo của Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin vào điều 4 Hiến pháp , đặt tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa khi chủ nghĩa xã hội là cái chưa biết bao giờ mới có , thì có chút nào là văn minh dân chủ ? Ngay cả những người lãnh đạo Đảng , đã mấy ai nắm vững chủ nghĩa của Đảng

 ( nếu nắm vững , với giả định là chủ nghĩa đúng hoàn toàn , thì đâu ra nông nỗi hiện nay ) và hầu như chẳng ai có thể trình bày chủ nghĩa xã hội hình dong tướng mạo nó ra làm sao , vậy mà lại bắt cả dân tộc đổ bao xuơng máu , tài sản , công sức mồ hôi nước mắt lao theo nó , thì đó đích thị là hành vi ngu dân đại quy mô ,xúc phạm dân tộc một cách ngang ngược chứ văn minh nỗi gì, dân chủ nỗi gì ?
            Việc mời các vị Dương Văn Minh , Vũ Văn Mẫu , Nguyễn Phước Đại , Phan Đình Diệu tham gia Mặt trận tổ quốc thì hẳn rằng không phải để các vị này cùng mặt trận xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lê nin . Trong khi vẫn giữ điều 4 Hiến pháp , giữ tên nước xã hội chủ nghĩa , trong khi bắt giam  đồng chí cựu công nhân Ba Son lão thành cách mạng Nguyễn Hộ chỉ vì ông khẳng khái tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa mà ông hằng hiến cả 56 năm đời mình tận tuỵ theo đuổi mà không đem lại tự do hạnh phúc cho dân , trong khi bắt giam thầy giáo Đỗ Tư Nghĩa vì đã đọc Phan Đình Diệu , Bùi Tín rồi quy tội “ tàng trữ tài liệu chống chủ nghĩa xã hội “ , mà lại mời các  ông Dương Văn Minh , Vũ Văn Mẫu ,bà Nguyễn Phước Đại – những người vốn chống chủ nghĩa xã hội có tầm cỡ , mời giáo sư tiến sĩ Phan Đình Diệu – người đã tuyên bố quan điểm dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê nin , tiến tới nền dân chủ lưỡng đảng , vào cơ quan tối cao của Mặt trận , thì đó là văn minh dân chủ , hay chỉ là bầy thêm bàn tiệc bánh vẽ “ Đại đoàn kết hoàhợp dân tộc “ ? ( lại xin mượn hình ảnh bàn tiệc bánh vẽ trong Di cảo thơ của Nhà thơ Chế Lan Viên ) .

            Anh Hà Sĩ Phu bảo rằng sự trái ngược giữa cái cảnh có vẻ thoáng đãng ở cấp vĩ mô với cảnh còng sắt siết tay ở cấp vi mô cứ như một câu đố thách thức sự hiểu biết của nguời dân . Tôi có hỏi chuyện mấy anh bạn , cũng vốn là đảng viên từng được Đảng giao làm công tác Mặt trận . Các anh ấy bảo chả có gì khó hiểu cả đâu , vẫn là bài bản quen thuộc trong công tác Mặt trận thôi, mở trên thắt dưới, thoáng đãng bề ngoài, siết chặt bên trong .

            Tôi nhớ Tổng bí thư  Nguyễn Văn Linh hồi còn đương nhiệm khi gặp cử tri với tư cách đại biểu Quốc hội đã giải thích bút danh N. V.L của ông có nghĩa là Nói và Làm , nói và làm phải đi đôi , người cầm quyền phải làm điều mình nói . Tôi cũng nhớ vị chủ tịch tiền nhiệm của đoàn chủ tịch UBTW. MTTQ Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ từng nêu rõ :

 “ Nhân dân ai cũng thích cái bánh thật chứ chẳng ai thích cái bánh vẽ “, “ Nhịêm vụ quan trọng nhất của Mặt trận là xây dựng nền dân chủ “ , “dân chủ là cái phải đấu tranh để giành lấy chứ không ngồi chờ ai ban phát cho “ . Tôi nghĩ  theo tinh thần ấy ,thì công cuộc dân chủ hoá ở Việt Nam ta phải bắt đầu từ việc nhân dân tự mình đoàn kết thành mặt trận đứng lên đòi người cầm quyền làm những điều họ nói , chưa đòi gì cao xa , hãy trước hết đòi họ trả ngay cho dân những quyền công dân đã ghi trong Hiến pháp . Mà đi đầu trong cụôc đòi hỏi nàytất phải là các vị trong Đoàn chủ tịch UBTW.MTTQ.VN . Đây đơn giản chỉ là một cuộc đòi nợ , món nợ mà Đảng cộng sản Việt Nam nợ nhân dân Việt Nam khi cách mạng tháng 8/1945 thành công , mới trả được chút ít trong năm 1946 , nhưng rồi hoãn nợ mãi đến nay . Xin nói thêm cho rành rọt ,món nợ ấy Đảng nợ dân , nhưng không phải tất cả đảng viên đều mắc nợ . Đảng hiện có hai triệu đảng viên , hầu hết là đảng viên thường , hầu hết trong sáng lương thiện , chả lẽ suốt đời tận tuỵ hy sinh quên mình vì dân vì nước nay không tiền , không quyền lại nhẫn tâm trốn nợ dân ? Không , kẻ mắc nợ dân là thiểu số đảng viên có chức , có quyền  trong đó một số ít nhờ chức quyền mà có tiền , cực kỳ lắm tiền , đang chi phối mọi công việc của Đảng , của đất nước – chức , quyền , tiền ấy đã kết họ lại thành một giai tầng mới , giai tầng tài phiệt đỏ . Họ đâu còn một chút nào gọi là phẩm chất cộng sản . Chủ nghĩa Mác-Lê nin , chủ nghĩa xã hội chỉ là cái bình phong tiện lợi nhất che giấu sự hoành hành của một thứ chủ nghĩa cá nhân tệ hại nhất không ai kiểm soát nổi , họ níu giữ chủ nghĩa làvì thế chứ họ tin gì vào chủ nghĩa .

 ( Những quan sát thực tế của tôi và đúc kết lý luận trong các bài viết của hai anh cùng một số tác giả khác đã cho tôi xác tín điều đó ) . Việc trả lại cho dân các quyền tự do dân chủ là sự đe doạ dữ dội đối với chiếc ghế và túi tiền của họ. Sự thống trị độc tôn độc tài của họ dưới danh nghĩa Đảng kéo dài hết nhiệm kỳ này qua nhiệm kỳ khác ,đa số đảng viên đều biết rõ đấy nhưng lúng túng chẳng biết gỡ cách sao để “ chỉnh đốn Đảng “, cứu vãn uy tín của Đảng.Toàn bộ tình trạng đó là hòn đá tảng chặn kín con đường dân chủ hoá.Thế lực tài phiệt đỏ đang mưu toan trốn nợ càng lâu càng tốt các quyền tự do của dân để"ổn định"  ngôi vị càng lâu càng tốt – một kiểu “ câu giờ “ để làm giàu theo công thức dùng chuyên chính vô sản để tích luỹ tư bản “-như anh Hà Sĩ Phu đã vạch rõ-một kiểu tích luỹ có tốc đoo"cao gấp bội lần kiểu tích luỹ cổ điển .Giữa họ với đa số đảng viên và toàn thể nhân dân chẳng còn gì chung về lợi ích,trái lại số tài sản mà họ đang hối hả tích luỹ chính là xuơng máu mồ hôi nước mắt của đa số đảng viên và toàn thể nhân dân.Dĩ nhiên đa số đảng viên cũng liên đới chịu trách nhiệm trước món nợ đối với dân,chừng nào họ chưa dứt khoát rũ bỏ cái cảnh tự đem sinh mệnh tinh thần của mình ghép thành lô cốt cho thiểu số tài phiệt đỏ núp trong đó cố thủ để tiếp tục đục khoét vơ vét , chừng nào họ chưa dám kiên quyết vượt qua những nguyên tắc (bấy lâu thường trói buộc họ , còn những phần tử thực quyền chi phối trong Đảng thì luôn tuỳ tiện vứt bỏ nguyên tắc ) tách ra đứng hẳn về phía nhân dân để đòi nợ cho dân và cho chính mình .

            Mọi người đều biết , anh Phan Đình Diệu hẳn càng biết rõ hơn , tính chất cây cảnh bao lâu nay của Mặt trận . Căn bệnh kinh niên nói một đằng làm một nẻo của những người cầm quyền khiến tôi không dứt được mối nghi ngờ về tính chất cây cảnh ấy cho dù vừa rồi thấy có thêm sự tham gia của bà cựu nghị sĩ Thượng viện  Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Phước Đại và sự tham gia tiếp tục của giáo sư tiến sĩ  Phan Đình Diệu . Tôi trộm nghĩ anh Phan Đình Diệu khi chấp nhận ngồi tiếp trên chiếc ghế hiện nay trong Mặt trận làchấp nhận một vị thế khá éo le . Với cương vị này hoặc có thể sẽ làm được mọi việc để góp phần giảm nhẹ và đi tới triệt tiêu tính chất cây cảnh của Mặt trận , hoặc có thể chỉ làm tà tà để rồi mặc cho chính mình “ hoà hợp” thành một nhánh trong cái cây cảnh ấy . Nhưng tôi tin rằng Phan Đình Diệu mà tôi cùng bao người khác rất đỗi tin tưởng và kỳ vọng sẽ không bao giờ là cành nhánh của cây cảnh . Tôi trông đợi anh Phan Đình Diệu sẽ sớm có đóng góp mới không chỉ với tư cách một công dân, một nhà chuyên môn ,mà với tư cách một uỷ viên Đoàn chủ tịch UBTW.MTTQVN  có thực quyền . Tôi coi sự có mặt của anh Phan Đinh Diệu tại đoàn chủ tịch UBTWMTTQVN là sự có mặt của một bộ phận trí thức Việt Nam, trong đó không ít người là đảng viên cộng sản , chủ truơng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết , muốn dân tộc thoát khỏi sự ràng buộc của ý thức hệ cộng sản lỗi thời để tiến tới ổn định một nền dân chủ lưỡng đảng hoặc đa đảng .

            Thưa anh Phan Đình Diệu và anh Hà Sĩ Phu .

            Tôi trộm nghĩ , độc lập , tự do , hạnh phúc là khát vọng lâu đời của dân tộc Việt Nam ta cùng mọi dân tộc trên thế giới .  Vì độc lập ,tự do , hạnh phúc , dân  tộc ta đã vùng lên làm Cách mạng tháng 8 /1945 , lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà . Nhưng lịch sử éo le và khắc nghiệt đã buộc dân tộc ta không còn cách nào khác là đứng lên cầm súng chống lại chiến tranh xâm lược cực kỳ tàn bạo của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập cho một đất nước Việt Nam thống nhất toàn vẹn . Và cũng chính lịch sử éo le và khắc nghiệt đã nhào trộn khát vọng độc lập tự do hạnh phúc với sự lựa chọn ý thức hệ . Biết bao máu Việt Nam đã tự nguyện hiến dâng cho độc lập tự do hạnh phúc và biết bao máu Việt Nam đã đổ ra oan uổng vì nạn phân biệt kỳ thị ý thức hệ . Hận thù cũ chưa xóa được đã chất thêm hận thù mới , cũng vì phân biệt kỳ thị ý thức hệ. Dân tộc đáng lẽ mạnh lên biết bao sau ngày thống nhất lại yếu hẳn đi , rơi vào nghèo nàn lạc hậu , hiện ra nhếch nhác trước nhân loại ,vì sự áp đặt bạo hành ý thức hệ . Từ chỗ được nhân loại coi là lương tâm của thời đại , dân tộc ta mau chóng rơi vào cảnh bị người ta coi khinh . Dân tộc ta đã đổ máu quá nhiều vì những vết thương thù hận . Rõ ràng hoà giải ,hoà hợp dân tộc là một yêu cầu bức xúc , một cuộc phục hưng tinh thần của toàn dân Việt Nam . Thực hiện được hoà giải hoà hợp dân tộc sẽ tạo ra động lực vô cùng to lớn cho đất nước phát triển ,và chỉ có dân chủ tự do mới đảm bảo vững chắc cho hoà giải hoà hợp dân tộc , đảm bảo cho một sự phát triển lành mạnh , mới có văn minh . Điều đó có lẽ không ai không thấy ,vấn đề còn lại là làm thế nào cho sự hoà giải hoà hợp thành hiện thực chứ không phải là những khẩu hiệu suông tung ra như một trò xiếc chính trị .

            Xuất phát điểm cùa hoà giải hoà hợp phải là sự thực tâm ,thực tâm từ mọi phía . Thực tâm phải thể hiện bằng việc làm, việc làm nhất quán , đồng bộ , minh bạch .

            Việc làm có tính chất sơ khởi là phải gạt bỏ ngay mọi rào cản hành chính cùng mọi thứ rào cản hữu hình và vô hình đối với một nhu cầu sơ đẳng và bình thường của con người là nhu cầu giao lưu tư tưởng , phải để cho mọi ý kiến quan điểm khác nhau đều được nói lên một cách bình đẳng, trực tiếp , công khai , bình tĩnh lắng nghe lẫn nhau dù ý kiến người này có thể làm chối tai , nóng mặt ngươì kia . Để tỏ rõ thực tâm của mình, đi bước trước trong việc làm này phải là những người cầm quyền  đang nắm giữ toàn bộ báo chí cùng mọi thứ diễn đàn trên đất nước từ Trung ương đến địa phuơng. ( Báo chí của người Việt ở nước ngoài hầu hết bị quy là “ Chống cộng “ “ phản động “ và bị ngăn  cấm triệt để còn hơn ngăn cấm hàng lậu . Ngay cả khái niệm “ phản động “ “ chống cộng” cũng cần xem lại. Nếu xét về lập trường tư tưởng hiện nay thì hai anh cũng bị xếp vào loại chống cộng , tôi cũng vậy , dù tôi đã thành tâm hiến dâng 22 năm đẹp nhất của đời mình cho ý thức hệ cộng sản . Và còn bao người khác nữa , từ hàng ngũ cộng sản mà ra ) .

            Cho nên khi anh Phan Đình Diệu tại đại hội Mặt trận đề xướng mọi hình thức “ diễn đàn “ , tất nhiên đó chỉ có thể là DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ , thì anh đã nói lên một nguyện vọng ,một đòi hỏi bức xúc của đông đảo người Vịêt Nam , kể  cả rất nhiều đảng viên cộng sản .

            Rất mong anh , với cương vị hiện thời của mình trong Mặt trận ,sớm xúc tiến DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ . Diễn đàn này không cần xin phép , vì phép ấy đã được cấp ngay trong lời tuyên bố của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại kỳ họp thứ 6 quốc hội khoá 9 ngày 20 tháng 10 năm 1994 .

            “ Chính phủ hoan nghênh mọi sáng kiến góp vào các chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ  quốc ( không có các chữ “ xã hội chủ nghĩa “ như trước đây _ BMQ nhấn mạnh ) , tôn trọng các ý kiến khác nhau , vì đó là biểu hiện của một xã hội phát triển , là điều đáng mừng . Đã vì đoàn kết hoà hợp dân tộc nhất thiết  phải lắng nghe ý kiến của nhau để tiếp cận lẽ phải . Hãy lấy mục tiêu chung là dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh ( không có mục tiêu “ xã hội chủ nghĩa “ như trước đây – BMQ nhấn mạnh ) làm điểm tương đồng ,chấp nhận những điểm khác nhau miễn là những điểm khác nhau ấy không trái với lợi ích chung “ .Vị Thủ tướng chính phủ đã long trọng tuyên bố thế , thật đáng phấn khởi , hẳn chúng ta có thể yên tâm mà làm DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ , phải không hai anh ?

            Tôi nghĩ cái điểm khác nhau nổi cộm nhất , quan hệ nhất đến vận mệnh dân tộc, cũng là điểm cần lắng nghe lẫn nhau nhất , cần tìm cách chấp nhận nhau nhất , là chung quanh vấn đề Đảng và chủ nghĩa Mác-Lênin ,chủ nghĩa xã hội đối với lợi ích dân tộc , vấn đề chế độ chính trị độc đảng , lưỡng đảng hay đa đảng , đằng nào dân chủ hơn, có lợi cho dân tộc hơn . Về vấn đề này , không chỉ cần sự lắng nghe lẫn nhau, chấp nhận lẫn nhau giữa những người cộng sản cầm quyền hiện nay với những người quốc gia , những người có quá trình chống cộng ( như các ông bà Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu , Nguyễn Phuớc Đại) mà cả với không ít người cộng sản đã từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê nin ,chủ nghĩa xã hội vì thấy nó có hại cho dân tộc khi bước vào xây dựng và phát triển ,vì thấy tiếp tục duy trì sự áp đặt chủ nghĩa ấy đối với toàn dân tộc là một trở lực cho việc giải quyết căn bản vấn đề hoà hợp hoà giải dân tộc , thực hiện dân chủ ( như ông Nguyễn Hộ và nhiều cựu đảng viên cộng sản khác ) .

            Xin mạn phép gợi ý với anh Phan Đình Diệu một cách làm DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ có hiệu quả rộng rãi và ít tốn kém :

            -DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ thực hiện ở mọi nơi mọi lúc cho mọi người , một bài ca Diên Hồng mọi người Việt Nam đều có thể hát chứ không riêng các vị trong UBMT các cấp độc quyền hát xuân thu nhị kỳ . Với DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ , tạo một bầu khí , một nền nếp mọi người Việt Nam tự do nói lên điều mình nghĩ về mọi vấn đề ,bàn luận mọi vấn đề , trừ các bí mật quốc gia .( Bí mật quốc gia thôi , chứ không phải bí mật của Đảng )

            -Tổ chức DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ theo phương thức dân tự làm, tự quản , tự chịu trách nhiệm hoặc theo phương thức Mặt trận và Nhân dân ( thường dân ) cùng làm .

            Tôi tin rằng nếu làm theo cách này , những ai tham gia DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ không những sẽ tự nguyện chịu mọi phí tổn mà còn hăng hái quyên góp thêm tài chính cho việc tổ chức diễn đàn . 

            Nhưng nói gì thì nói, diễn đàn có hiệu quả nhất ,đỡ tốn kém nhất , vẫn là một tờ báo . Ở nước ta hiện nay , tòan bộ báo chí đều do những người cầm quyền trong đảng chi phối đến từng câu , chữ , các tổng biên tập hàng tuần hàng tháng đều phải dự giao ban ở Ban tuyên huấn để nhận sự chỉ đạo và uốn nắn sít sao .( Anh Phan Đình Diệu hẳn chưa quên vụ mất chức của tổng biên tập tờ “ Giáo dục và thời đại “ chỉ vì đăng mấy dòng cáo lỗi với bạn đọc về việc không được đăng bài của Lê Quang Vịnh phê phán Phan Đình Diệu và bài của Phan Đình Diệu ) .Vậy muốn thực hiện cái điều Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tuyên bố “ … Vì đoàn kết  và hoà hợp dân tộc , NHẤT THIẾT phải lắng nghe ý kiến của nhau để tiếp cận lẽ phải “ thì tôi nghĩ NHẤT THIẾT phải có một tờ báo nói lên những tiếng nói khác nhau và khác với tiếng nói của Đảng , đứng ngoài dàn hợp xướng báo  chí do Đảng chỉ huy . Phải có các tiếng nói khác nhau như thế cất lên công khai bằng một tờ báo độc lập thì mới có cái mà lắng nghe chứ , còn những tiếng nói khác nhau chỉ cất lên ở xó bếp ở quán cóc vỉa hè thì làm sao mà “ lắng nghe” ,lại vướng nạn “ khẩu thiệt vô bằng"càng thêm rắc rối . Đảng đã có hàng trăm tờ báo , chỉ xin để một chỗ cho một tờ báo loại này thôi , có thể đặt tên là tờ “DIỄN ĐÀN DÂN CHỦ “ hoặc tờ “ HOÀ HỢP DÂN TỘC “ chẳng hạn . Tờ báo này phải do các cá nhân công dân góp sức góp của lại làm , chỉ lấy “ đại nghĩa dân tộc làm trọng” ( lời tổng bí thư Đỗ Mười ) , không chịu sự chi phối của đảng phái nào, tổng biên tập không phải dự giao ban ở đâu cả , chỉ “ giao ban “ với bạn đọc ( nếu bạn đọc tẩy chay ) và với cơ quan pháp luật ( nếu phạm pháp ) . Hệ thống báo chí do đảng kiểm soát rõ ràng áp đảo về số lượng ,lại thêm sức mạnh lý lẽ của Đảng nữa thì sự áp đảo là tuyệt đối . Còn ngần ngại gì mà không thể để cho một tờ báo ngoài hệ thống của mình ra đời ?, Nhất thiết chỉ có sự xuất hiện hợp pháp của một tờ báo như thế,tôi mới tin rằng có sự thực tâm “ Vì đoàn kết và hoà hợp dân tộc , nhất thiết phải lắng nghe ý kiến của nhau , để tiếp cận lẽ phải

            Dù sao khi vị Uỷ viên Đoàn Chủ tịch UBTWMTTQVN có quan điểm từ bỏ chủ nghĩa cộng sản tiến tới nền dân chủ lưỡng đảng đã đề xướng  diễn đàn dân chủ ,và vị đứng đầu chính phủ đã long trọng tuyên bố “ nhất thiết phải lắng nghe ý kiến của nhau để tiếp cận lẽ phải “ , tuy chỉ mới trên lời nói , tôi cũng thấy chút hy vọng .

            Phần còn lại là việc làm .

            Người cầm quyền dám làm những điều mình nói .

            Người dân dám làm những điều người cầm quyền nói .

            Phải vậy không hai anh Phan Đình Diệu và Hà Sĩ Phu ?

            Mong nhận được ý kiến trao đổi của hai anh , chỉ bảo cho những điều còn chưa sáng tỏ .

            Gửi hai anh lời chào hy vọng và tin tưởng . 

 

                                                                        BÙI MINH QUỐC

                                                             03 Nguyễn Thượng Hiền Đà Lạt

           

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           

 

PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI LẦN THỨ NĂM

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

                       

             ( đọc lúc mười giờ sáng 13/3/1995 sau

                                     nhiều lần đòi hỏi )

 

            Kính thưa đại hội ,

            Từ hôm qua đại hội chỉ chủ yếu nghe ban chấp hành tự đánh giá . Hôm nay nếu hội viên không tự giành lấy quyền phát biểu , chắc đại hội sẽ diễn ra một cách tẻ nhạt , chiếu lệ, để bầu một BCH mới cho xong chuyện .

            Tôi rất ngạc nhiên khi bản báo cáo của ban kiểm tra không được trình bày trên diễn đàn mà chỉ lặng lẽ phát cho hội viên đọc một cách lặng lẽ .BCH và đoàn chủ tịch đã tỏ ra không nghiêm túc khi gạt bản báo cáo của Ban kiểm tra ra khỏi diễn đàn . Đối với các vấn đề về sáng tác , mỗi nhà văn có thể tự lo , nhưng chính việc bảo vệ quyền lợi nhà văn mới cần và rất cần đến hội . Vì thế , ban kiểm tra và hoạt động của nó quan trọng không kém gì ban chấp hành . Ý kiến của chị Lê Minh yêu cầu có một điều khoản trong điều lệ hội quy định bầu ban kiểm tra riêng rẽ với ban chấp hành và bao gồm những người không có tên trong danh sách ứng cử , đề cử BCH là rất xác đáng , tôi rất hoan nghênh .          

            Kính thưa đại hội ,

            Tại đại hội lần thứ tư , vấn đề Bùi Minh Quốc là một trong những điểm nổi cộm được đại hội quan tâm : Bùi Minh Quốc bị khai trừ khỏi Đảng ,Bùi Minh Quốc bị cách chức chủ tịch Hội văn nghệ Lâm Đồng .

            Việc tổ chức Đảng khai trừ một đảng viên đương nhiên là công việc nội bộ của Đảng . Nhưng khi Đảng khai trừ một đảng viên nhà văn hội viên được đánh giá là tốt ( như báo cáo của ban kiểm tra đánh