|
"Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau dồi bao nhiêu tri thức về khoa học tự nhiên, về triết học Mác-Lê, về chính trị ... thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành tầng lớp trí thức tiểu tư sản bấp bênh ! Trở thành kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư ... thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học !. Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng ngược chiều với chất trí thức ! Đó là điều nghịch lý".....Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ - Hà Sĩ Phu 1988
"Khẳng định vai trò quyết định của tự do và phát triển không có nghĩa là khi có hai điều kiện ấy thì tự khắc sẽ có Bình đẳng và Bác ái mà không cần đến hoạt động khuyến thiện và nỗ lực tranh đấu của con người. Không thể lấy khát vọng thay cho qui luật, nhưng khát vọng đúng sẽ xúc tiến nhanh qui luật...." Đôi Điều Suy Nghĩ của Một Công Dân - Hà Sĩ Phu 1993
"Mọi hoạt động Tranh đấu của con người từ cổ chí kim , không có gì ra ngoài ý nghĩa của chữ QUYỀN CON NGƯỜI. "Quyền Con người" ngày nay đã trở thành vấn đề toàn cầu không nước nào có thể lẩn tránh, điều ấy đánh dấu một bước trưởng thành khổng lồ của văn minh nhân loại. Ở đâu có áp bức bất công, ở đâu con người bị đối xử phi lý đều có thể tìm nơi "Quyền Con Người" một điểm tựa để tranh đấu, ít nhất cũng là điểm tựa tinh thần. Mặt khác. từ ánh sáng chung nhất về "Quyền Con Người", con người có thể nhìn lại những trào lưu Tranh đấu của mình một cách có cơ sở khách quan, khoa học và sáng suốt hơn..." Chia Tay Ý Thức Hệ - Hà Sĩ Phu 1995
|
|
Nhóm Thân Hữu ĐàLạt - Tiêu Dao Bảo Cự
Hành Trình Cuối Đông
Mục lục
-
Hai mươi năm sau một chuyến “Hành trình cuối đông”
xuyên Việt (Thay lời tựa cho lần tái bản trong Tủ sách talawas)
-
Lời nhà xuất bản
-
Phần I: Bút ký Hành trình cuối đông
-
Phụ lục A: Thơ Hữu Loan, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Bắc
Sơn, Nguyễn Mạnh Tấn, Tiêu Dao Bảo Cự
-
Phần II: “Vụ án Langbian”
-
Phụ lục B: Một số tư liệu liên quan đến “Vụ án
Langbian”
-
Về Bùi Minh Quốc
-
Về Tiêu Dao Bảo Cự
-
Phụ lục C: Một số tác phẩm trích từ 3 số tạp chí
Langbian
-
Phụ lục D: Một số hình ảnh.
Hai mươi năm sau một chuyến “Hành trình cuối đông” xuyên Việt
(Thay lời tựa cho lần tái bản trong Tủ sách talawas)
Thế mà đã hai mươi năm kể từ ngày ấy. Thời gian đối với con người rất
dài mà cũng nhanh như một chớp mắt. Nhân dịp Tủ sách talawas có nhã ý
muốn tái bản trên mạng cuốn bút ký Hành trình cuối đông của tôi (nhà
xuất bản Văn nghệ, Hoa Kỳ, 1997), tôi muốn nhìn nhận lại đôi điều về
chặng đường đã qua. (Cuốn sách này đã được một số trang web đưa lên mạng
nhưng không đầy đủ, chỉ có phần bút ký chính và phụ lục thơ, thiếu hẳn
hơn 200 trang tư liệu mà qua đó người đọc có thể hiểu rõ hơn về chuyến
đi này và vấn đề được gọi là “Vụ án Langbian”. Ngoài ra lần tái bản này
còn được bổ sung một số hình ảnh và tư liệu khác). Nhân đây, trước hết,
tôi xin được ngỏ lời cám ơn talawas đã làm một việc rất có ý nghĩa và
hữu ích, không phải chỉ cho riêng tôi mà còn cho nhiều người khi nhìn
lại một sự kiện có thể ít nhiều có tính chất lịch sử.
Đây không phải chỉ là câu chuyện của riêng Bùi Minh Quốc và tôi, hai
nhân vật chính trong cuộc hành trình, mà còn liên quan đến rất nhiều
người và tổ chức, đặc biệt là các hội văn nghệ và trí thức, văn nghệ sĩ
7 tỉnh miền Trung, phản ánh một thời kỳ khá đặc biệt, trong đó người trí
thức, văn nghệ sĩ đã dám nói lên tiếng nói phản kháng của mình.
Năm 1987, Hội Văn nghệ Lâm Đồng được thành lập và xuất bản tạp chí
Langbian, cơ quan ngôn luận của Hội do anh Bùi Minh Quốc làm tổng biên
tập và tôi là phó tổng biên tập. Chỉ sau 3 số, Langbian bị rút giấy phép
vì tính chất cấp tiến của nó. Theo đề xuất của chúng tôi, ban chấp hành
Hội và ban biên tập tạp chí đã nhất trí thành lập một đoàn do anh Bùi
Minh Quốc và tôi đại diện đi vận động và đấu tranh để đòi quyền tiếp tục
xuất bản tạp chí. Chuyến đi có khách là nhà thơ Hữu Loan cùng đi. Chuyến
đi này xuất phát từ Đà Lạt, xuống Sài Gòn, qua các tỉnh miền Trung và
Tây Nguyên, ra Hà Nội kéo dài trong một tháng 14 ngày (từ 4-11-1988 đến
17-12-1988), đã trở thành một chuyến đi đòi tự do sáng tác, tự do báo
chí và xuất bản, mở rộng ra đòi đổi mới và dân chủ thực sự. Chuyến đi
gây nên nhiều sóng gió và hệ luỵ, ngay sau đó đã bị Trần Trọng Tân, lúc
đó là trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương quy kết trên báo Nhân dân ngày
25-12-1988 là “nhóm người trong Hội Văn nghệ Lâm Đồng lợi dụng công
khai, dân chủ và hoạt động bè phái”.
Bối cảnh lớn trong thời điểm này là Liên Xô đang tiến hành “glasnost và
perestroika”, Việt Nam vừa có Đại hội VI của Đảng Cộng sản mở đầu thời
kỳ đổi mới. Trong nước, vài sự kiện quan trọng từ trước chưa từng có
diễn ra như nông dân 6 tỉnh Nam bộ biểu tình đòi ruộng đất, Câu lạc bộ
Những người Kháng chiến cũ ở Sài Gòn được thành lập, trong hoạt động
công khai phê phán sự lãnh đạo của Đảng và đòi kiểm điểm cả Bộ Chính trị
về việc thực hiện đường lối và sách lược. Trên lãnh vực văn nghệ và báo
chí có nhiều khởi sắc sau khi được tuyên bố “cởi trói”, thể hiện rõ nhất
là tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, tạp chí Sông Hương của
Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, kể cả báo Sài
Gòn Giải phóng là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh,
cũng như một số báo, tạp chí, bao gồm cả báo Đảng, của các địa phương
khác như Nha Trang, Cửu Long, Lâm Đồng… Trên lãnh vực tư tưởng, ngoài sự
đấu tranh chung trong nội bộ Đảng về đường lối đổi mới, đặc biệt có sự
phổ biến không chính thức một số luận điểm theo chiều hướng cải tổ của
Liên Xô của Trần Xuân Bách, uỷ viên Bộ Chính trị và sự ra đời của Nghị
quyết 05 của Bộ Chính trị về văn hoá văn nghệ, một nghị quyết hay nhất
và cấp tiến nhất của Đảng Cộng sản từ trước đến nay trên lãnh vực này mà
người đứng đằng sau là Trần Độ, trưởng Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương
và các cộng sự của ông.
Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị đã chính thức nói đến sự “động dao chủ
nghĩa xã hội” và xu hướng bảo thủ trong Đảng đã thắng thế khi cánh cửa
đổi mới vừa hé ra đã khép lại, sợ “gió độc” tràn vào. Văn nghệ sĩ mới
được cởi trói chưa được bao lâu, có người còn lóng ngóng như “gà công
nghiệp vừa ra khỏi chuồng” chưa biết làm gì, đã bị trói lại. Tuy thế,
với thời gian ngắn ngủi đó, trong văn học cũng đã xuất hiện một số tác
giả vừa có tài năng vừa có tư tưởng cấp tiến như Nguyễn Huy Thiệp, Dương
Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Phùng Gia Lộc, Huỳnh Hữu Các… mà tác phẩm của
họ đã gây tiếng vang lớn trong công chúng.
Đảng khẳng định đổi mới kinh tế chứ không đổi mới chính trị, “đổi mới
chứ không đổi màu”. Đặc biệt trên lãnh vực tư tưởng, thể hiện trong hoạt
động báo chí và văn học nghệ thuật, cảm thấy sự nguy hiểm có thể diễn ra
rất nghiêm trọng, Đảng đã mạnh tay siết lại sự kiểm soát của mình. Hàng
loạt tổng biên tập báo bị cách chức hay thay thế và vụ gây tiếng vang
lớn nhất trong công luận là vụ “cách chức trá hình” nhà văn Nguyên Ngọc,
tổng biên tập tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.
Trước tình hình đó, thay vì chùn bước, chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc đấu
tranh của mình. Hình thức cuộc đấu tranh là sử dụng báo chí và trực tiếp
vận động thông qua những kiến nghị, tuyên bố mang tính cá nhân, tập thể
hay tổ chức khi đi qua nhiều địa phương để đòi những quyền thiết yếu cho
văn nghệ sĩ và mở rộng ra là đòi đổi mới và dân chủ thực sự, riêng trong
chuyến đi nói trên, được coi là một “cuộc biểu tình chạy” từ Nam ra Bắc,
một sự kiện chưa từng có trước đây.
Phương pháp chúng tôi sử dụng là phương pháp công khai vì chúng tôi cho
rằng công khai là thế mạnh của mình trong khi đó lại là “chỗ yếu chí tử”
của các thế lực bảo thủ. Mọi văn bản và hoạt động chúng tôi đều thông
báo rộng rãi đến nhiều đối tượng, nhiều cơ quan của Đảng và nhà nước,
không phải chỉ của Trung ương mà còn khắp cả các địa phương trong cả
nước. Khi không còn tờ báo trong tay và không cậy đăng được ở các báo
khác, chúng tôi cho đánh máy stencil và quay ronéo hoặc photocopy nhiều
trăm bản để gởi đi. Một số bạn bè gọi đùa chúng tôi thuộc “trường phái
ronéo”. (Lúc đó chưa có máy vi tính và Internet như sau này).
Trong thời gian đó, thẳng thắn mà nói, chúng tôi đấu tranh với tư cách
là đảng viên cộng sản, để thực hiện nghị quyết mà chúng tôi cho là đúng
đắn của Đảng vì lúc đó nghị quyết đúng nhưng người ta không thực hiện
hoặc nói một đằng làm một nẻo. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6
ghi: “Đảng lãnh đạo và tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn
thể”. Trong công tác vận động quần chúng, ông Lê Quang Đạo phát biểu:
“Khi Đảng nắm chính quyền thì Đảng có hai nguy cơ lớn là đường lối sai
và bệnh quan liêu, xa rời quần chúng… Sau khi có chính quyền, dẫu đường
lối có sai nhưng vẫn có khả năng bắt dân phải nghe, Đảng bị quan liêu
hoá nhưng vẫn bắt dân tuân theo mình, vì trong tay có quyền lực.” (Phát
biểu tại cuộc họp của báo Đại Đoàn kết ngày 8-12-1989 để góp ý về công
tác dân vận của Đảng).
Ấy thế nhưng Đảng vẫn thực hiện phương châm lãnh đạo “trực tiếp, toàn
diện và tuyệt đối” bằng cách thò tay cụ thể vào tất cả mọi nơi để nắm
tất cả, kiểm soát tất cả. Ngay trong việc thành lập Hội Văn nghệ Lâm
Đồng, trước yêu cầu bức thiết của văn nghệ sĩ địa phương sau 12 năm kể
từ ngày thống nhất, đầu tiên là phải hình thành một chi bộ để lãnh đạo
trước khi cho nó ra đời. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ sau khi thăm dò đã cho
người đi trao đổi và mời Bùi Minh Quốc từ Đà Nẵng vào, điều động tôi từ
Bảo Lộc lên và cử một phó Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ qua, có đủ 3 người để
thành lập chi bộ, chỉ định ông phó ban này làm bí thư chi bộ và sau đó
cơ cấu vào phó chủ tịch Hội Văn nghệ. Chặt chẽ như thế nhưng tiếc thay,
sau này có đến 2/3 đảng viên “vi phạm kỷ luật Đảng”, chi bộ không thể
khai trừ được mà phải đưa lên Đảng bộ cấp trên thực hiện. Muốn thế Đảng
phải ra một chỉ thị mới về việc này vì trước đây không có tiền lệ và quy
định như thế. Bùi Minh Quốc vẫn hay nói vui là chúng tôi tự hào vì đã
giúp Đảng sáng tạo ra những chỉ thị nghị quyết mới. (Cũng như sau này
Nghị định 31/CP về quản chế hành chính “tù tại gia” ra đời là cũng để
đối phó với những trường hợp như chúng tôi vì hai chúng tôi là hai đối
tượng đầu tiên được áp dụng nghị định này).
Sau vụ Câu lạc bộ Những Người Kháng chiến Cũ bị dẹp tan, những người chủ
chốt như Nguyễn Hộ, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu… bị tù và quản chế, Đảng chỉ
đạo thành lập Hội Cựu Chiến binh vì đây là một lực lượng đông đảo và có
thành tích trong quá khứ, không tổ chức và lãnh đạo sẽ rất nguy hiểm nếu
họ trở nên bất mãn. Thế là Hội Cựu Chiến binh được hình thành, có cơ cấu
tổ chức, trụ sở, kinh phí, biên chế từ trung ương đến địa phương, tương
tự như các đoàn thể công nông thanh phụ. Trong sự phát triển mới, nhiều
tổ chức khác cần ra đời để đáp ứng yêu cầu của xã hội như hội đồng
hương, hội ái hữu các trường học, hội võ thuật, hội chim cây cá cảnh cho
đến câu lạc bộ dưỡng sinh, câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ doanh nghiệp…
Những tổ chức của xã hội dân sự này đáng lẽ để tự hình thành và vận
hành, Đảng cũng thò tay vào kiểm soát tất cả. Bất cứ hội đoàn, câu lạc
bộ nào, người chủ chốt hay cố vấn cũng phải là người tin cậy của Đảng,
một ông sĩ quan, cán bộ về hưu hay một người có dây mơ rễ má nào đó với
Đảng. Nghĩa là Đảng không tin nhân dân, sợ rằng nhân dân sẽ phản mình.
Đảng đã nắm quân đội, công an, nhà nước, quốc hội, các đoàn thể lực
lượng chủ chốt của “cách mạng” nhưng Đảng vẫn chưa yên tâm. Đảng đã
không tin dân thì dân làm thế nào tin Đảng?
Thời điểm này, chúng tôi tự cho mình là những người cộng sản chân chính
và Đảng Cộng sản mà chúng tôi tham gia là một đảng đã không tiếc máu
xương, chịu đựng bao tra tấn, tù đày để đấu tranh cho độc lập dân tộc và
công bằng xã hội. Sự suy thoái của Đảng, trong Đảng là do những kẻ xấu
xa, cơ hội đang khuynh loát Đảng trong giai đoạn Đảng cầm quyền. Vì thế
vào thời điểm này, Bùi Minh Quốc viết:
Con xin nói
với tất cả tấm lòng và lương tri cộng sản
Mẹ chẳng phải đảng viên
Nhưng mẹ có tấm-thẻ-đỏ-trái-tim ròng ròng máu ứa
Chính mẹ chứ không ai – mẹ phải nắm quyền
Hỏi tội những thằng thẻ đỏ tim đen.
(“Những ngày thường đã cháy lên”, 1988)
Tuy nhiên, sự cách biệt giữa nghị quyết và thực tế, giữa nói và làm,
cách xử lý đối với những hành động của chúng tôi đã đẩy chúng tôi xa
Đảng, dần dần đi vào thế đối lập với Đảng. Một cách nhìn nhận khác là
chúng tôi thấy Đảng Cộng sản này không còn là “đảng của mình” nữa khi nó
đi ngược lại những lý tưởng mình đã chọn khi vào Đảng. Trước đây Đảng
hay dùng cách nói “Đảng ta”, làm cho nó phổ biến trong toàn xã hội, để
khắc sâu thành ý thức rằng đảng này chính là đảng của toàn dân tộc. Dù
không phải là đảng viên, hầu như mọi người đều nói “Đảng ta” khi nhắc
đến Đảng. (Đây là nói về tình hình miền Bắc trước đây. Tương tự như cách
nói “Nhờ ơn Đảng, ơn chính phủ”, “Nhờ ơn Bác và Đảng”). Sự nhồi sọ tinh
vi này đến bây giờ không còn hiệu lực nữa. Đã đến lúc người ta nhận ra
rằng quyền lực không nên thuộc về Đảng nữa mà quyền lực phải thuộc về
nhân dân vì trong Đảng có quá nhiều kẻ xấu xa đang chà đạp lên nhân dân.
Bùi Minh Quốc nói “Mẹ phải nắm quyền”, chính là đòi hỏi nhân dân phải
giành lấy quyền làm chủ để “hỏi tội những thằng thẻ đỏ tim đen”. Sự đòi
hỏi này hoàn toàn chính đáng.
Công bằng mà nói, trong thời gian có “động dao chủ nghĩa xã hội” này,
Đảng đã đối xử với chúng tôi không tệ lắm so với sau này. Cuộc đấu tranh
trong nội bộ Đảng với Tỉnh uỷ Lâm Đồng kéo dài nửa năm, hết sức gay gắt
dù đây là một cuộc đấu hoàn toàn không cân sức. Trong những cuộc thảo
luận hay kiểm điểm ở Hội Văn nghệ, ở Ban Kiểm tra Đảng hay với Thường
trực Tỉnh uỷ, chúng tôi tranh luận không khoan nhượng. Trong một cuộc
họp ở Hội, khi phó bí thư Tỉnh uỷ đến phát biểu chỉ đạo xong rồi ra về,
không ở lại nghe anh em nói, một hội viên đã đứng lên chặn ngang đường
không cho ông ta về và ông đành phải ngồi lại.
Sau khi vụ việc xảy ra, Bộ Chính trị đã có chỉ thị mật gởi tất cả các
tỉnh, thành uỷ; các ban tuyên huấn, ban tổ chức, ban kiểm tra Đảng, Bộ
Văn hoá Thông tin đều cử người về Lâm Đồng và một số tỉnh để điều tra
nhưng công an chỉ làm việc một cách âm thầm, không lộ diện và trực tiếp
đối phó như sau này. Việc trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương quy chụp
chúng tôi trên báo Nhân dân là một hình thức rất nặng nề vào lúc đó
nhưng chẳng thấm gì so với những cái gọi là bài báo “vạch rõ bộ mặt
thật” của chính chúng tôi và những người bất đồng chính kiến hay đấu
tranh dân chủ khác trên báo Nhân dân và nhất là trên các báo công an sau
này.
Điều đáng trân trọng là thái độ ủng hộ chúng tôi của một số anh em trí
thức, văn nghệ sĩ. Họ ủng hộ nghĩa là họ tán thành quan điểm như chúng
tôi đề xuất và đã không ngại nói lên tiếng nói của mình. Đó là những
tiếng nói đầy hào khí. Đà Lạt có Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Hữu
Cầu, Đặng Việt Nga, Nguyễn Diệp, Nguyễn Đức Thạc, Nguyễn Quang Nhàn,
Nguyễn Hồng Giáp, Phan Hồng Phương…, Nha Trang có Thế Vũ, Cao Duy Thảo,
Đào Xuân Quý, Lê Ký Thương, Trần Chấn Uy, Giang Nam…, Đắc Lắc có Văn
Thanh, Nguyễn Mạnh Tấn…, Gia Lai-Kontum có Nguyễn Đỗ…, Nghĩa Bình có
Thanh Thảo, Trần Hinh, Nguyễn San, Nguyễn Trung Hiếu…, Đà Nẵng có Thanh
Quế, Thái Bá Lợi, Phạm Văn Hạng, Nguyễn Bá Thâm, Nguyễn Văn Phụng, Hồ
Hoàng Thanh, Phạm Hồng, Hoàng Sơn…, Thừa Thiên-Huế có Hoàng Phủ Ngọc
Tường, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Quang Lập,
Nguyễn Trọng Tạo, Trần Thức, Hoàng Dũng, Ngô Minh, Nguyễn Quang Hà,
Hoàng Vũ Thuật, Võ Quê, Hồng Nhu…, Nam bộ có Nguyễn Bá, Hà Văn Thuỳ…, Hà
Nội có Nguyễn Thuỵ Kha… Sau khi chúng tôi bị đàn áp, Bùi Minh Quốc và
tôi bị cách chức, khai trừ Đảng, chỉ một hai trường hợp hãn hữu, có
người quay lại tố cáo chúng tôi, một vài người xoay chiều hay đổi hướng
hoặc không còn tiếp tục cuộc đấu tranh nhưng phần lớn đều bày tỏ cảm
tình và giữ mối quan hệ tốt với chúng tôi, không có hiện tượng tố giác,
chỉ điểm, đánh hôi, đánh tập thể như thời Nhân văn-Giai phẩm. Đây quả là
một hiện tượng đáng mừng.
Hai mươi năm qua từ sau vụ Langbian, tình hình đã diễn ra như thế nào
trên lãnh vực tư tưởng và báo chí, văn học nghệ thuật?
Qua 4 kỳ đại hội kể từ Đại hội VI, các nghị quyết của Đảng hình như vẫn
là “bổn cũ soạn lại”, vẫn là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ chí
Minh, ổn định chính trị và kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, không chấp nhận dân chủ đa nguyên, kiên quyết chống các tư tưởng
thù địch và diễn biến hoà bình, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động báo
chí, văn hoá văn nghệ…
Đảng không thay đổi nhưng người dân đã thay đổi. Sự độc quyền lãnh đạo
và ổn định chính trị theo kiểu buộc phục tùng bằng răn đe và bạo lực,
tạo ra nỗi sợ thường trực trên toàn xã hội không còn hiệu lực như xưa
nữa. Nông dân Thái Bình, ngoại thành Hà Nội và nhiều nơi đã nổi dậy
chống lại số cán bộ Đảng đã trở thành cường hào mới bóc lột, đè đầu cỡi
cổ nhân dân. Các “dân oan” khắp mọi nơi biểu tình khiếu kiện chống cướp
nhà cướp đất và tập trung về Hà Nội ăn ngủ vạ vật ở công viên trường kỳ
đòi công lý….
Cùng với một số ít người đã công khai bộc lộ chính kiến trước đây, những
đảng viên cao cấp, trí thức, văn nghệ sĩ phê phán đảng xuất hiện ngày
càng nhiều và ngày càng gay gắt. Ở Sài Gòn có Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan,
nhóm Câu lạc bộ Những Người Kháng chiến Cũ, Nguyễn Văn Trấn, Lữ Phương,
Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ… Ở Hà
Nội có Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Phan Dình Diệu, Nguyễn Khắc Viện,
Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương, Hoàng Tiến, Nguyễn Kiến Giang, Lê
Hồng Hà, Vũ Cao Quận, Lê Đăng Doanh… rồi những người trẻ hơn như Nguyễn
Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang…, Ở Đà Lạt có Hà Sĩ Phu, Mai Thái
Lĩnh…
Từ chỗ bất đồng chính kiến, đối lập, về sau này nhiều người đã trở thành
đối kháng, không những chỉ đòi giải thể Đảng Cộng sản mà còn thành lập
các tổ chức chính trị để đấu tranh đòi dân chủ, đặc biệt rộ lên từ năm
2006 như Khối 8406, Đảng Dân chủ XXI, Đảng Dân chủ Nhân dân, Đảng Thăng
tiến, Liên minh Dân chủ Nhân quyền Việt Nam, Hiệp Hội Đoàn kết Công
Nông… Những tổ chức này tuy quy mô nhỏ nhưng hoạt động của họ gây tiếng
vang rất lớn nhờ sự tiếp sức của phương tiện Internet và sự hỗ trợ của
các lực lượng người Việt ở nước ngoài. Bên cạnh những người lớn tuổi như
Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn Văn Lý, Trần Anh Kim…, xuất hiện một
lớp người trẻ hơn như Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Văn Đài, Lê
Thị Công Nhân…
Nhà nước đã đối phó với họ bằng luật hình sự với những bản án tù từ 1-2
năm đến 10-15 năm và biện pháp quản chế hành chính với Nghị định 31/CP,
tạo ra một hình ảnh công an trị không còn chút gì dân chủ. Mới đây nhất,
trong tháng 5-2007, một loạt các phiên toà “công khai và bịt miệng” kết
án những người đấu tranh cho dân chủ đã làm dấy lên một làn sóng phản
đối không những ở trong nước, của Việt kiều ở hải ngoại mà còn của nhiều
quốc gia, tổ chức nhân quyền trên thế giới. Như thế rõ ràng sự ổn định
chính trị mà Đảng Cộng sản muốn có chỉ là một bề mặt tạm thời với nhiều
đợt sóng ngầm nguy hiểm ở bên dưới.
Tình hình báo chí trong nước quả thật có nhiều khởi sắc và phong phú.
Các báo, tạp chí xuất hiện vô số, với kỹ thuật hiện đại không thua gì
các nước tiên tiến, về đủ mọi lãnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hoá
văn nghệ cho đến gia đình, nấu ăn, nhà đẹp, ô tô, mỹ phẩm, nuôi chó…
không thiếu một thứ gì. Tiền quảng cáo trên một số tờ báo lớn đã giúp
những cơ quan chủ quản các tờ báo này này giàu lên nhanh chóng, có thể
xây dựng trụ sở hiện đại và thành lập những công ty, tập đoàn kinh doanh
như các nước phương Tây. Các báo điện tử cũng bắt đầu xuất hiện và tức
khắc hoà vào Internet toả ra khắp thế giới.
Nội dung báo chí mới là điều quan trọng. Năm 1988, lần đầu tiên các trí
thức, văn nghệ sĩ miền Trung yêu cầu cách chức một số quan chức cấp bộ
và uỷ viên trung ương Đảng. Sau đó báo chí công khai mới nói đến chuyện
yêu cầu cách chức một số quan chức trong Liên đoàn Bóng đá. Gần đây, sau
một số vụ tham nhũng nổi cộm báo chí mới đề cập đến chuyện cách chức một
số bộ trưởng. Báo chí cũng đã phanh phui nhiều vụ tham nhũng và tiêu cực
lớn, nhất là trong vấn đề nhà đất, của quan chức ở mọi địa phương, mọi
cấp. Các bài phóng sự điều tra đã mô tả được nỗi khổ của nông dân bị áp
bức, của những tầng lớp khốn cùng sống bên lề xã hội. Một số bài chính
luận và nhất là ý kiến của bạn đọc trên các báo đã có mức độ phê phán
gay gắt đối với một số chủ trương, chính sách và hành vi sai trái của
các quan chức có quyền thế. Tuy nhiên tất cả đều dừng lại đối với vấn đề
lãnh đạo của Đảng, trước cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Rõ ràng,
báo chí không dám, không được phép nói hết. Vì làm sao với bao nhiêu sai
lầm khuyết điểm to lớn như vậy mà lại không có phần trách nhiệm của
những người lãnh đạo cao nhất.
Báo chí chính thức chịu một sự kiểm soát gay gắt và chặt chẽ thông qua
Ban Tư tưởng Văn hoá và các tổng biên tập, ban biên tập. Sự lựa chọn đội
ngũ lãnh đạo báo chí vô cùng chặt chẽ, tất cả đều là đảng viên đáng tin
cậy và khi báo có sai lầm, việc xử lý người lãnh đạo báo là phương thức
hữu hiệu nhất đưa tờ báo vào khuôn phép.
Một trong những đặc điểm lạ lùng nhất mà có lẽ không nước nào có là Việt
Nam luôn luôn tuyên bố có đầy đủ tự do báo chí nhưng lại không cho phép
báo chí tư nhân. Mặt khác, các báo chính thống của nhà nước, nhất là báo
của ngành công an, có thể tự do vạch mặt, xúc phạm, bôi nhọ, lên án, kết
tội những người mà họ cho là “phản động, nguy hại cho an ninh quốc gia”
trước khi những người này được đưa ra toà xét xử.
Tuy nhiên gần đây những người hoạt động đấu tranh dân chủ đã bất chấp sự
cấm đoán. Họ ra một số báo như Tự do ngôn luận, Tự do dân chủ, Tin nhà,
Tổ quốc… dù bị đàn áp đối với báo in nhưng báo điện tử trên mạng vẫn
tiếp tục tồn tại. Cùng với vô số trang web trên Internet mà thông tin
cập nhật từng giờ, rõ ràng nhà nước không thể bưng bít được thông tin
như trước đây. Tuy thế việc truy cập vào các trang web bị cấm vẫn còn
nhiều khó khăn do bức tường lửa của nhà nước cản trở và việc xử lý của
công an đối với những đối tượng mà họ cho là nguy hiểm khi truy cập vào
những trang web này.
Về văn học kể từ đợt khởi sắc ngắn sau khi được “cởi trói” năm 1986, văn
học Việt Nam hầu như chững lại. Tuy cũng có một vài tác phẩm thực sự có
giá trị nhưng các nhà phê bình và độc giả đều than thở Việt Nam không có
tác phẩm lớn. Người ta ngạc nhiên không hiểu sao một đất nước trải qua
một thời kỳ lịch sử bi tráng với bao nhiêu biến cố long trời lở đất,
hiện thực ngồn ngộn dữ liệu cho tác phẩm, nhà văn cũng không thiếu tài
năng nhưng tác phẩm lớn vẫn chưa xuất hiện. Đây là một câu hỏi làm nhức
nhối những người cầm bút.
Một điều cần nói thêm là hoạt động của các hội văn học nghệ thuật. Qua
thông tin trên báo chí, phần lớn các tổ chức hội đều có chuyện gọi là
“đấu đá nội bộ” để tranh giành quyền lực, nhất là qua các kỳ đại hội,
một việc không liên quan gì đến sáng tạo văn học nghệ thuật nhưng đã
chiếm rất nhiều công sức và tâm huyết của không ít văn nghệ sĩ. Do đó
một số người đã tuyên bố ra khỏi hội hoặc không quan tâm gì đến hoạt
động của hội nữa. Riêng Hội Văn nghệ Lâm Đồng, từ khi tiếp tục hoạt động
lại, chuyện đấu đá này cũng xảy ra triền miên. Mấy năm trước đây, một uỷ
viên ban chấp hành hội, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, trước khi đi
dự đại hội Hội Nhà văn Việt Nam, đã bị hội địa phương khai trừ ra khỏi
hội vì tham ô. Mới tháng trước, báo đăng tin chủ tịch hội cũng đã bị
khai trừ ra khỏi hội vì lý do tương tự dù kinh phí của hội mỗi năm chỉ
có vài trăm triệu đồng. Than ôi!
Không phải tất cả nhưng nhiều văn nghệ sĩ cũng cần hội, nhóm để chia sẻ,
động viên, hỗ trợ nhau trong sáng tác nhưng đây phải là sự gặp gỡ, tập
họp theo kiểu “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” và hoạt động
hoàn toàn tự do chứ không phải, không thể là một cơ quan nhà nước hay
đoàn thể chịu sự chi phối của đảng và nhà nước. Ở Việt Nam, thời tiền
chiến, nhóm Tự lực văn đoàn là một thí dụ rõ ràng về điều này và họ đã
để lại một dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học. Hiến pháp Việt Nam
hiện nay có ghi rõ quyền tự do lập hội nhưng chưa thấy hội văn học nghệ
thuật nào được tự do thành lập hay văn nghệ sĩ nào đấu tranh để thực
hiện quyền lập hội chính đáng của mình. Đây cũng là điều đáng ngạc nhiên
và cũng là một câu hỏi lớn, một vấn nạn cho những người hoạt động văn
học nghệ thuật. Tại sao lại cứ phải chui vào một rọ để rồi cấu xé lẫn
nhau?
Đoạn kết của bút ký Hành trình cuối đông, tôi viết: “Tình cờ chăng khi
chuyến đi là một hành trình cuối đông? Mùa đông đã qua. Mùa xuân đang
qua. Tất cả chỉ là ý nghĩa tượng trưng thôi để nói lên một niềm hi vọng.
Hành trình vẫn còn tiếp diễn, nhiều mùa đông và nhiều mùa xuân nữa, trên
dặm dài lịch sử. Sẽ có lúc chúng tôi gối mỏi, chân chồn. Nhưng chắc chắn
chúng tôi sẽ không dừng lại khi mình còn đủ sức đi thêm một bước nữa.
Chắc chắn chúng tôi còn vô số bạn đồng hành, bạn chiến đấu. Và chúng ta
đã đi, khắc đến.”
Thế mà đã hai mươi năm qua, mái đầu của chúng tôi có người đã điểm bạc,
có người đã bạc trắng. May mắn thay chúng tôi vẫn đã tiếp bước như lời
ước hẹn ngày ấy dù đã có lúc gối mỏi chân chồn, và chúng tôi cũng đã có
rất nhiều bạn đồng hành, bạn chiến đấu. Cuộc đấu tranh cho quyền tự do
tư tưởng, tự do sáng tác, tự do báo chí và xuất bản của trí thức, văn
nghệ sĩ, rộng hơn là quyền công dân và quyền làm người, cho khát vọng
dân chủ và hoà bình của toàn dân tộc là một cuộc đấu tranh lâu dài mà
mỗi một người phải đóng góp phần mình. Thành quả đến sớm hay muộn tuỳ
thuộc vào nhận thức và sự tham dự của toàn dân tộc. Nhưng điều chắc chắn
là “chúng ta đã đi, khắc đến”.
Đà Lạt, tháng 6-2007
Tiêu Dao Bảo Cự
Lời nhà xuất bản
Tiêu Dao Bảo Cự đã được biết đến tại hải ngoại qua tác phẩm Nửa đời nhìn
lại do nhà Thế Kỷ, California, xuất bản năm 1994. Cuốn truyện này đã gây
được tiếng vang lớn trong giới cầm bút và những người quan tâm đến tình
hình đất nước. Đó là một bi kịch nội tâm, là sự phản tỉnh của một đảng
viên cộng sản. Đó cũng là một mảng của cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ
và đổi mới thực sự. Theo lời tác giả, đây là một “tác phẩm xuất phát từ
cuộc đời, chính là cuộc đời, hoà quyện hiện thực, ước mơ và khát vọng”.
Nhưng “hoà quyện hiện thực, ước mơ và khát vọng” cũng có mặt trái của
nó. Một số bài phê bình đã trách tác giả pha trộn hư cấu và đời thực,
làm mất đi gía trị chứng từ của tác phẩm. Tác gỉa không đồng tình với ý
kiến trên và đã trả lời trong một cuộc trao đổi lý thú giữa trong và
ngoài nước.
Khi tái bản cuốn Nửa đời nhìn lại năm 1997, chúng tôi có đăng phần phụ
lục gồm các bài phê bình nói trên, cũng như những bài trao đổi giữa tác
giả và các bạn văn. Nhân dịp đó, chúng tôi đã khám phá ra sự hiện hữu
của một bút ký với người thật, việc thật, tựa là Hành trình cuối đông,
ghi lại một cách trung thực tất cả những diễn tiến trong chuyến đi một
tháng mười bốn ngày dọc đường đất nước từ Đà Lạt qua các tỉnh miền Trung
ra Hà Nội, để đòi quyền tự do báo chí và tự do xuất bản. Cuộc hành trình
“biểu tình chạy” này được thực hiện vào mùa đông 1988, và Tiêu Dao Bảo
Cự viết phần bút ký cùng một lúc với Nửa đời nhìn lại, nhưng chưa hề
được xuất bản. Chúng tôi cho Hành trình cuối đông ra mắt độc giả để bù
lại thiếu sót đó.
Trong khi tìm hiểu về Hành trình cuối đông, chúng tôi lại có may mắn sưu
tầm được một số tài liệu quan trọng chung quanh “Vụ án Langbian” mà nạn
nhân là Hội Văn nghệ Lâm Đồng của thành phố Đà Lạt. Số tài liệu này gồm
các kiến nghị, tuyên bố, thư từ, quyết định, vv… liên quan đến một sự
kiện đã làm rúng động các cơ quan lãnh đạo tư tưởng của đảng cộng sản
Việt Nam trong thời kỳ “cởi trói” văn nghệ sĩ năm 1988. Đó là sự kiện
các hội văn nghệ miền Trung cũng như những cá nhân đã ký chung kiến nghị
và tuyên bố đòi quyền tự do báo chí và tự do xuất bản, và đòi cách chức
một số “quan văn hoá” trong Ban Tuyên huấn Trung ương đảng cộng sản Việt
Nam lúc bấy giờ, những người đã chà đạp lên các quyền tự do ngôn luận và
tư tưởng. Những chữ ký này đã được thu thập qua chuyến Hành trình cuối
đông của đoàn văn nghệ lâm Đồng do Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự thực
hiện. Cùng đi với đoàn còn có nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ nổi
tiếng “Màu tím hoa sim”, một nạn nhân của vụ án Nhân văn-Giai phẩm trong
thập niên 50.
Cũng như Nhân văn -Giai phẩm 30 năm về trước, tạp chí Langbian của Hội
Văn nghệ Lâm Đồng ở Đà Lạt đã bị đình bản sau khi ra được ba số, Bùi
Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự, tổng biên tập và phó tổng biên tập bị kỷ
luật khai trừ ra khỏi đảng cộng sản, bị cách chức trong hội Văn nghệ và
bị bao vây kinh tế. Nhưng sau vụ này, hai anh vẫn kiên cường đấu tranh
cho tự do báo chí và tự do xuất bản. Không còn diễn đàn để phát biểu
trong nước, hai người đã viết những bài tham khảo và trả lời phỏng vấn
chung quanh đề tài dân chủ hoá thực sự đất nước, được báo chí và đài
phát thanh hải ngoại đăng tải và loan truyền rộng rãi. Nhà cầm quyền đã
tìm mọi cách để không cho họ nói, hai người đã bị công an gọi lên thẩm
vấn ngày này qua ngày nọ, bị tạm giữ, bị cắt điện thoại, nhưng vẫn không
cấm cản được những người muốn nói lên tiếng nói của lương tri.
Cuối cùng, vào tháng 4-1997, nghị định 31/CP được thủ tướng ban hành,
cho phép chính quyền địa phương quản chế hành chánh không cần xét xử
những người có “hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến an ninh quốc
gia, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Và những nạn nhân
đầu tiên của nghị định này chính là Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự.
Hai anh bị quản chế hai năm, công an gác trước cửa nhà, điện thoại bị
cắt, hoàn toàn không được tiếp xúc với ai. Cùng chung số phận với họ là
Hà Sĩ Phu, cũng ở Đà Lạt, một bạn đồng hành của Bùi Minh Quốc và Tiêu
Dao Bảo Cự, từng được hải ngoại biết đến qua các bài nghiên cứu sâu sắc
về tình hình đất nước. Nói theo lời nhà văn Hoàng Tiến ở Hà Nội: “Như
thế thí có khác gì đi ở tù, loại tù cơm nhà, tù không có ăn, không có
xét xử. Tôi cực lực phản đối lối hành hạ con người, xúc phạm phẩm giá
con người như vậy” (trích thư Hoàng Tiến viết ngày mồng 5 tết Mậu Dần
1998, nhân dịp các ông Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Phan Đình Diệu, Hoàng
Hữu Nhân phát biểu đòi dân chủ hoá đất nước).
Khi cuốn sách này lên khuôn, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh Quốc và Hà Sĩ Phu
vẫn còn bị quản chế.
Xuất bản bút ký Hành trình cuối đông, chúng tôi muốn phá tan sự bưng bít
của chính quyền hiện nay để đưa ra ánh sáng một cuộc đấu tranh cho tự do
báo chí và tự do xuất bản xảy ra ngay trong lòng chế độ cách đấy 10 năm,
và tới giờ này hai người khởi xướng là Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự
vẫn còn bị guồng máy chuyên chính tìm đủ mọi cách để nghiền nát. Sự ra
đời của cuốn sách này sẽ là món quà tặng hết sức khiêm nhường gửi đến
những chiến sĩ đang dũng cảm đấu tranh cho dân chủ và cũng đang là nạn
nhân của một guồng máy bạo lực phi nhân.
Nhà xuất bản Văn nghệ
Mùa Xuân 1998
(bút ký về một chuyến đi có
thật)
Tiêu Dao Bảo Cự
Đoàn văn nghệ Langbian xuất phát xuống núi lúc 8 giờ sáng ngày
4-11-1988: Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Hoàng Như Thủy An, Lưu Hữu
Nhi Dũ, chiến sĩ lái xe Bùi Thanh Thảo và con chiến mã Lada 49A-3842.
Phải nhắc ngay đến Bùi Thanh Thảo và con chiến mã Lada vì nếu không có
những người bạn đường trung thành và tận tụy này thì chúng tôi không thể
nào làm được cuộc hành trình gần 6000 cây số từ Nam ra Bắc với thời gian
đúng một tháng mười bốn ngày, không phải chỉ đi ban ngày mà cả ban đêm,
không chỉ giờ hành chính mà cả đến 11, 12 giờ khuya, không chỉ trên
đường lớn mà cả trong những ngõ nhỏ đến với bạn bè văn nghệ khắp dọc
đường đất nứớc. Chúng tôi dự tính khi hoàn thành chuyến đi sẽ quyết định
cấp một kiểu giấy khen gì đó cho con chiến mã Lada, dán vào cửa kính xe
để ghi công trạng của nó nhưng đến nay vẫn chưa làm được.
Khách cùng đi với đoàn văn nghệ Langbian là nhà thơ Hữu Loan. Hữu
Loan là ai?
Hữu Loan là thực
hay Hữu Loan chỉ là thơ
Anh còn sống
hay anh mới hiện về
từ xa lắm ngày xưa
từ mới khai sinh chế độ?
(Hữu Loan: Chuyện tôi về)
Chúng tôi sẽ còn nói nhiều đến Hữu Loan trong thiên bút ký này.
Hữu Loan đến với văn nghệ Langbian như duyên tiền định. Sau ba mươi
năm ở ẩn bất đắc dĩ, Hữu Loan "tái xuất giang hồ", đi một vòng đất nước
thăm quê hương bạn bè. Ngày 22-1-1988, ngọn gió lạ tình cờ đưa Hữu Loan
đến với đại hội thành lập Hội văn nghệ Lâm Đồng và trở thành kẻ tri âm
tri kỷ của văn nghệ Langbian. Sau đó cũng rất tình cờ Hữu Loan đã cùng
đi với Bùi Minh Quốc và Nguyễn Tấn Cứ ngao du một vòng tám tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long và bây giờ cũng rất tình cờ, Hữu Loan đã có mặt ở Đà
Lạt lúc văn nghệ Langbian chuẩn bị chuyến đi. Phải chăng "đồng thanh
tương ứng, đồng khí tương cầu"? Hữu Loan rất thú vị với sự kết hợp lạ
lùng trong chuyến đi này. Anh không hề mang ơn chúng tôi dù chúng tôi đã
giúp anh thực hiện một-chuyếnđdi-mơ-ước-cuốiđdời-không đễ-gì-có được,
chúng tôi cũng không dựa gì vào tiếng tăm và sự hâm mộ của quần chúng
dành cho anh. Đó chỉ là sự gặp gỡ kết hợp của lịch sử mà thời kỳ đổi mới
đã tạo ra. Hữu Loan là "nhân văn"(?!). Từ "nhân văn" với ý nghĩa đẹp đẽ
cao quý từ trong nghĩa đen bao năm qua đã được hiểu như một cái gì xấu
xa, phản trắc. Hữu Loan và bạn bè văn nghệ cùng thời của anh đã là "nhân
văn". Nếu là "nhân văn" đúng nghĩa đẹp của nó,"nhân văn" không phải là
phản động, thì chúng tôi, chúng ta, thế hệ sau lại không thể là và không
phải là "nhân văn" sao? Ta sợ gì những cái mũ quy chụp. Không có Hữu
Loan này sẽ có Hữu Loan khác, không có chúng tôi sẽ có người khác, không
có sự kết hợp này sẽ có sự kết hợp khác, không có chuyến đi này, sẽ có
chuyến đi khác. Và lịch sử nhất định sẽ tiến theo con đường đích thực
của nó, bằng những giá trị nhân văn trường cửu của mình.
Hữu Loan "nhà quê" vô cùng. Anh lập cập mở mãi không được cánh cửa xe
vì không biết chốt cửa nằm ở đâu. Anh không xấu hổ vì chuyện đó. Từ năm
1945 anh đã lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Nga Sơn quê
hương anh, đã phụ trách bốn ty của tỉnh Thanh Hóa, có tiêu chuẩn xe con
đưa đón, nhưng đã ba mươi năm rồi anh chỉ ở làng quê không hề ra thành
phố. Chúng tôi nhớ lại hôm đại hội văn nghệ Lâm Đồng, khi phát biểu anh
đã mở đầu bằng câu "Thưa cán bộ" làm mọi người cười ầm lên. Lúc tổ chức
gặp gỡ công chúng ở rạp 3/4 Đà Lạt, lên sân khấu đọc thơ, anh đã tự
nhiên ngồi chồm hổm trên sân khấu lục tìm trong xắc tập thơ của mình để
đọc, mặc cho thính giả chờ đợi.
Chao ôi! Hữu Loan là nhà thơ, là trí trức, đã từng làm tuyên huấn sư
đoàn, từng phụ trách báo chiến sĩ liên khu IV, sau ba mươi năm làm ruộng
và đẩy xe thồ, bề ngoài và thói quen anh hoàn toàn là một ông già nhà
quê. Chỉ có nội tâm anh lúc nào cũng sục sôi tinh thần chiến sĩ - nghệ
sĩ và vì thế anh đã hòa nhập vào thế sự và văn chương hôm nay không một
chút lạc hậu.
***
Đoàn văn nghệ Langbian xuống núi, đi dọc miền Trung để gặp gỡ, trao
đổi với bạn bè, đồng nghiệp những vấn đề chung trước khi ra Hà Nội để
đòi giấy phép xuất bản chính thức cho tạp chí Langbian, đòi các quyền cơ
bản của Hội văn nghệ là quyền ra báo, tạp chí và xuất bản. Tạp chí
Langbian mới ra được ba số, với các bài thơ của Thanh Thảo và Đặng Thị
Vân Khanh đã gây ra một cuộc tranh luận gay cấn về phê bình văn nghệ và
chụp mũ chính trị, với bài phát biểu "Thơ và trách nhiệm của thơ" của
Bùi Minh Quốc làm nhiều người nhức nhối, với trường ca "Đi! Bài thơ Việt
Bắc" của Trần Dần và bài thơ "Tục Đèo Cả" của Hữu Loan làm bao người khó
chịu, với bài thơ "Phía sau nhân dân" của Nguyễn Tấn Cứ được báo đảng An
Giang đăng lại và nghe nói có người đánh máy nhiều bản giao cho nông dân
Nam bộ cầm đi biểu tình, với "Đề cương đề dẫn" của Đảng đoàn Hội nhà văn
1979 lần đầu tiên được công bố đã làm bao ông lớn phải điên đầu...
Tạp chí Langbian còn non trẻ, mới "xuất hiện giang hồ" còn nhiều sơ
xuất, khuyết điểm, nhưng với "chiêu thức" khá độc đáo, được bạn bè và
bạn đọc ủng hộ, cổ vũ thì với cái chỉ thị gì đó của ông Bộ thông tin mới
ban hành, Sở văn hóa thông tin Lâm Đồng không dám cấp giấy phép cho nó
nữa, thế là Langbian phải làm như chàng Lang trong truyền thuyết Mạ
K'Ho, đi kiện trời. Cũng là sự phù hợp lạ lùng, văn nghệ Langbian thời
nay cũng phải lên tới thiên đình như dũng sĩ Lang thuở hồng hoang; còn
nàng Bian, thời đại nào cũng có những nàng Bian dám sống chết cho tình
yêu và chân lý.
Trước khi ra Trung, đoàn văn nghệ Langbian về thành phố Hồ Chí Minh
để giải quyết một số việc của cơ quan mà việc chính là phát hành số sách
đã xuầt bản còn tồn đọng. Văn nghệ Langbian thật "họa vô đơn chí". Sau
"vụ án về sách vụ án" rùm beng giữa năm 1988 mà Sở văn hóa thông tin Lâm
Đồng nổi cộm lên như một điển hình thì ở Thành phố Hồ Chí Minh và các
tỉnh, các công ty phát hành sách nhà nước hay các tay lái sách tư nhân
nghe đến sách của Lâm Đồng đều dội không dám nhận, bất kể đó là "Thơ
tình cho Lara" của Pasternak,"Gió đầu mùa" của Thạch Lam, hay "Sáu mươi
ngọn nến" của Tendriacốp... Chưa kể loại sách văn học đứng đắn, có giá
trị không thể nào cạnh tranh nổi với các loại sách tình báo, gián điệp,
hình sự giật gân và khiêu dâm. Thậm chí có tay phát hành sách đã đề nghị
đổi tên "Sáu mươi ngọn nến" của Tendriacốp thành "Cái chết được báo
trước", vẽ lại bìa cho thật hấp dẫn thì sẽ nhận phát hành. Chao ôi! Cái
thời buổi mới đau đớn cho nhà văn biết chừng nào!
Đoán trước rằng chuyến đi đòi quyền sống cho Langbian sẽ gặp khó
khăn, chưa chắc đã đạt được mục đích, ở Thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi
đã đến làm việc với ban biên tập các báo, gặp Nguyễn Công Khế, phó tổng
biên tập Tuần Tin Thanh Niên và Kim Hạnh, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ
trao đổi bước đầu về mục đích chuyến đi và đề nghị khi Langbian gặp khó
khăn xin được "mượn đất" trên các báo bạn. Bạn - những tờ báo mạnh mẽ
của tuổi trẻ Sài Gòn - hứa sẽ ủng hộ, điều đó củng cố thêm lòng tin cho
văn nghệ Langbian trước chuyến đi xa, dù chưa biết chuyến đi sẽ mở đầu
cho một cuộc chiến đấu đầy cam go và lôi cuốn biết bao người vào dòng
nước xoáy thử thách bản lĩnh và nhân cách, làm lộ mặt những con người
bao năm mang mặt nạ, làm rõ bạn thù trên chiến tuyến đấu tranh cho đổi
mới.
Tội nghiệp cho Trần Duy Phiên. Tác giả "Trước khi mặt trời mọc" thuở
Đối Diện trước năm 1975, một cây bút tài hoa nhiều phong cách của nhóm
Việt, nhóm văn nghệ yêu nước tiến bộ hoạt động mười năm trong lòng đô
thị miền Nam, sau mười ba năm gác bút, đọc Langbian, thấy phấn khởi cầm
bút trở lại. Gặp chúng tôi ở Sài Gòn, tại nhà Trần Hữu Lộc, tác giả
"Cách một giòng sông" của nhóm Việt, Phiên đã tin cậy trao cho văn nghệ
Langbian truyện ngắn mới nhất của anh, khi Langbian không còn giấy phép
để xuất bản.
Từ núi rừng Gia Lai - Kontum, Trần Duy Phiên đi ngay vào cuộc tranh
luận với bạn bè ở những vấn đề gai góc nhất của văn chương hiện nay:
Viết có cần lập trường giai cấp không? Phải chăng có thể viết về nỗi đau
của bất cứ con người nào trong cuộc đời, dù đó là một người ăn mày hay
một tay tư sản? Tại sao lúc nào cũng có một ông kiểm duyệt nằm trong đầu
khi viết, viết mà cứ sợ không được đăng, không được xuất hiện, không
được lãnh đạo hài lòng, chấp nhận? Phải chăng từ sau 1954 Việt Nam không
có một nền văn chương đích thực mà chỉ có một số tác phẩm văn chương, vì
phần lớn các tác phẩm chỉ có tính chất minh họa mà nghệ thuật đã bị đẩy
xuống hàng thứ yếu?
***
Sau vài ngày làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, đoàn văn nghệ Langbian
xuất phát đi ra Trung khi cơn bão số 10 đang tràn vào đất liền. Sài Gòn
mưa gió mạnh và lạnh chưa bao giờ gặp trước đây, nhưng trên quốc lộ 1 ra
Trung, rất may xe đi đến đâu thì bão mới qua đến đó. Thuận Hải bị cơn
bão quét qua, hai bên đường cây cối gãy chưa kịp dọn, nước sông còn dâng
lên ngập úng một số đồng ruộng.
Chúng tôi đến Phan Thiết lúc gần chiều, tìm ngay đến Hội văn nghệ
Thuận Hải. Trụ sở hội ở trên một đường phố chính, tầng dưới dùng làm
quán cà-phê, khách rất đông và nhạc ầm ĩ. Mai Sơn ủy viên thường vụ hội,
người viết văn trẻ của Thuận Hải tiếp đoàn và đưa ngay đi nhà hàng ăn
cơm, uống bia chu đáo.
Rất tiếc là nghe nói Nguyễn Tường Nhân chủ tịch hội ốm đang nằm bệnh
viện. Nhà viết kịch này tuy lớn tuổi nhưng qua mấy lần tiếp xúc trước
đây rất hăng hái. Trong hội nghị các tạp chí văn nghệ miền Trung tổ chức
tại Nha Trang tháng 3-1988, khi nói về các chỉ thị gò bó của Bộ thông
tin, Nguyễn Tường Nhân đã than phiền và lên án "hiện tượng Pôn Pốt trong
văn nghệ" hiện nay.
Buổi tối hội Thuận Hải bận tổ chức trao bằng khen cho kiến trúc sư đã
thiết kế Nhà bảo tàng Hồ Chí Minh nên thường trực hội hẹn 8 giờ tối mới
làm việc và chỉ có Huy Sô và Mai Sơn dự. Huy Sô là nhạc sĩ, phó chủ tịch
hội. Hai bên trao đổi những vấn đề chung của văn nghệ. Huy Sô nói nhiều,
tỏ ra thức thời nhưng ngại va chạm. Ông tự cho mình là người nói mạnh
trong các cuộc họp nhưng có lý lẽ không ai bắt bẻ được. Ông khuyên văn
nghệ Langbian cần chờ đợi vì có nhiều vấn đề trung ương cũng đang lúng
túng, ở địa phương nên khôn khéo tranh thủ tỉnh ủy, ủy ban tỉnh, Sở văn
hóa thông tin, đừng đi mau mà vấp! Đại khái những lời khuyên mà chúng
tôi đã nghe nhiều, khôn ngoan, và chúng tôi đã thực hiện nhưng không
giải quyết được gì.
Mai Sơn cùng dự có tác động theo chiều hướng tích cực nhưng không ăn
thua, ông ủy viên thường vụ trẻ này cấp tiến, có uy tín trong giới viết
văn địa phương nhưng tiếng nói chưa có trọng lượng trong tổ chức hội.
Trước khi chia tay, Huy Sô còn nói đùa: ""Các anh đi rủ rê làm cách mạng
phải không, muốn làm Tô Tần thời nay khó lắm!"
Chúng tôi buồn cười mãi về câu nói "rủ rê đi làm cách mạng". Nếu đúng
là làm cách mạng thì cũng nên rủ rê nhau. Chứ sao!
Ngủ đêm ở Phan Thiết, sáng sớm hôm sau, chúng tôi định đi ngay Nha
Trang, nhưng khi đến trụ sở hội văn nghệ chào từ biệt, gặp một số anh em
cán bộ hội níu kéo ở lại nói chuyện, đưa đi chụp ảnh lưu niệm ở Nhà bảo
tàng Hồ Chí minh (nơi có trường Dục Thanh ngày trước người thanh niên
Nguyễn Tất Thành đã từng dạy học) bên bờ sông Mường Mán.
Vì sự níu kéo này mà chúng tôi gặp Nguyễn Bắc Sơn trước khi rời Phan
Thiết. Nghe anh em nói Nguyễn Bắc Sơn hiện đang ở Phan Thiết, chúng tôi
đề nghị đưa đi thăm ngay vì chúng tôi, kể cả Bùi Minh Quốc đều đã đọc
thơ anh trước 75 và mến giọng thơ ngang tàng của anh.
Lê Nguyên Ngữ, một cây bút của Thuận Hải, đưa chúng tôi đến nhà
Nguyễn Bắc Sơn ở ven thị xã Phan Thiết. Nhà Sơn có vườn khá rộng, có cây
vú sữa lớn tỏa bóng mát và một loài hoa bông vàng ngả mình trên nền đất
cát, hoa ti-gôn trùm phủ lên mấy cây hoa sứ, có vẻ gì hơi hoang sơ. Đứng
trong vườn nhà có thể thấy chùa Phật với bảy đầu rồng và nghe tiếng sóng
biển vọng lên phía sau nhà.
Tất cả chúng tôi đều lần đầu gặp Nguyễn Bắc Sơn. Anh khoảng 40 tuổi,
gầy, nụ cười và đôi mắt phảng phất vẻ mệt mỏi . Anh đang bị bệnh và phải
tự chữa bằng cách tập Yoga và khí công. Anh rất cảm động khi chúng tôi
đến thăm, cứ đòi đi kiếm rượu đãi khách nhưng chúng tôi can vì không thể
ở lâu. Anh cho biết không phải đã gác bút mà trái lại đang ồấp ủ nhiều ý
định sáng tác và đọc cho chúng tôi một số bài thơ mới làm. Anh tranh thủ
chép bốn bài thơ để gởi cho tạp chí Langbian, mà anh cũng đã có nghe bạn
bè nói đến. Ngay nhan đề các bài thơ đã cho thấy một phong cách thơ anh:
Bài thơ tình viết khi nổi sùng, Mùa thu đi ngang cây phong du, Chuyện
một ngày nhàn rỗi, Chuyện hai bố con tôi. Thơ tình của Nguyễn Bắc Sơn
lạ, đẹp và đau đớn:
Thời mạt thế người ta yêu nhau bằng cái búa
Và tặng nhau hằng chục nhát dao găm
Anh, kẻ chập chờn giữa càn khôn lảo đảo
Tặng cho em nguyên một đóa trăng rầm
(Bài thơ tình viết khi nổi sùng)
Nguyễn Bắc Sơn trước đây đã từng bị bắt đi lính trong Nam nhưng bố
anh là một cán bộ tập kết, khi về hưu là trung tá Quân đội Nhân dân, ông
mới mất cách đây vài năm và mộ chôn ngay trong vườn nhà. "Chuyện hai bố
con tôi" là một tâm sự cay đắng:
Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung sướng
Và thế là ông từ tuổi thanh xuân
Cùng bạn bè đi làm cách mạng
Ông càng làm cách mạng chừng nào
Thì loài người càng thêm sặc máu
Tôi ước mơ cõi đời tốt đẹp
Và thế là tôi làm thơ ca tụng loài người
Tôi càng ca tụng chừng nào
Thì loài người càng xấu xa chừng nấy
Phải chăng đó là một tâm trạng bế tắc có thực mà từ cuộc sống chung
của đất nước và cuộc sống riêng, Nguyễn Bắc Sơn đã chiêm nghiệm một cách
bi quan.
Trước khi từ giã Phan Thiết, chúng tôi đến thăm và ăn trưa tại nhà
Nguyễn Như Mây. Anh chàng thi sĩ này đúng là Như Mây. Anh kể có hôm buồn
quá ra bến xe đứng rồi bất ngờ nhảy lên một chiếc xe đò nào đó sắp
chuyển bánh. Có thể là Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang... Miễn là được đi sau
khi cảm thấy ngôi nhà và phố cũ đã quá chật chội bức bối. Dù ngôi nhà
rất ấm cúng và người vợ rất hiểu chồng, quý bạn bè văn nghệ. Dù phố cũ
thân quen với biết bao kỷ niệm của một nửa đời đã qua. Xin ngôi nhà,
người vợ, phố cũ hiểu cho chàng, dành cho thi sĩ những thoáng phiêu bạt
và những giờ đến với bằng hữu không thể thiếu trong đời.
Vợ chồng hiếu khách Nguyễn Như Mây đã cho khách ăn một bữa cơm mắm
tuyệt vời, không đâu có được. May ra chỉ có bữa cơm mắm tôm ở quán Nhạn,
bến xe Huế sau đó là có thể nhắc nhở chúng tôi thế nào là hương vị của
mắm quê hương và làm chúng tôi nhớ đời. Còn những bữa ăn sang trọng do
bạn bè chiêu đãi, bia bọt đầy tràn dù ở các khách sạn của Sài Gòn, Nha
Trang, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế hay Hà Nội, trừ tấm lòng bè bạn, chúng tôi
quên ngay vì không có gì đáng nhớ. Nghe nói nhà Nguyễn Như Mây là nơi
dừng chân của bạn bè văn nghệ từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam. Như Mây
không biết uống rượu nhưng nhà lúc nào cũng có sẵn một hũ rượu ngon đãi
khách và vợ Như Mây cũng ngồi nghe thơ của bạn bè văn nghệ say mê như
chồng.
Ơ' Phan Thiết, chúng tôi đã đến thăm Nhà bảo tàng Hồ Chí Minh, khách
sạn Vinh Thủy, đi ngang qua tượng đài liệt sĩ, Nhà hát nhân dân ngoài
trời, những công trình xây dựng lớn, niềm tự hào của Thuận Hải. Nhưng
chúng tôi tiếc không được đến lầu ông Hoàng, nơi kỷ niệm đã đi vào những
dòng thơ đớn đau của Hàn Mặc Tử. Nghe nói nơi này đã bị nạy đến viên
gạch cuối cùng. Việc gặp anh em văn nghệ Thuận Hải làm ấm lòng anh em
văn nghệ Langbian khi đi qua một vùng đất tuy địa giới tiếp giáp với Lâm
Đồng nhưng lại xa cách biết bao sông núi.
Tại nhà Như Mây, ăn trưa xong, dù không có "không khí" nhưng mấy khi
gặp nhau, nên Như Mây mời lên gác uống trà, đọc thơ. Trên đường ra
Trung, lần tầu tiên Hữu Loan đọc "Chuyện tôi về", Bùi Minh Quốc đọc
"Những ngày thường đã cháy lên","Không có gì quý hơn độc lập tự do","Mẹ
đâu ngờ", những bài thơ sẽ góp phần gây sóng gió cho chuyến đi dọc đường
đất nước.
***
Khởi hành từ Phan Thiết muộn nên 8 giờ tối, xe mới đến ngã ba Thành
trước khi vào Nha Trang. Cơn bão số 10 vừa đi qua đang gây lụt ngập
đường vào Nha Trang. Nước sông dâng lên ngập đường đến khoảng một mét,
trên đoạn đường dài đến hơn năm cây số. Chiếc Lada đã vượt qua đoạn
đường này như một phép lạ, không chết máy dù nước vào đầy trong thùng
xe, ướt hết đồ đạc. Trời tối, nước mênh mông không thấy mặt đường, chiếc
Lada bám theo một chiếc xe bồn phóng tới bất kể trời đất. Mọi người trên
xe đều lên ruột. Rải rác trên đường đã có những chiếc xe chết máy nằm vạ
hoặc người đi xe phải xuống đẩy. Một vài lần xe giật giật, gầm gừ, ho
sặc nước nhưng rồi nó vẫn dũng cảm tiến tới và băng lên đoạn đường khô
ráo khi Nha Trang hắt lên ánh sáng ấm cúng của thành phố về đêm. Sau
những phút giây gần như nín thở, mọi người thở phào và hầu như cùng một
ý nghĩ "thoát nạn". Cũng như sau này trong chuyến vào, trời tối, chiếc
Lada nổ lốp ba lần gần Đại Lãnh, một nơi đèo heo hút gió nhưng vẫn có
chỗ vá xe và lại mua được hai lốp cũ để thay thế.
Chúng tôi đến Nha Trang lúc 9 giờ tối, thuê phòng nghỉ tại nhà khách
tỉnh ủy, ra chợ ăn phở rồi về lăn ra ngủ.
Sáng hôm sau, đến trụ sở Hội văn nghệ Nha Trang, nơi có quán cà-phê
của Lê Ký Thương, đã thấy rất đông anh em văn nghệ có mặt. Một chỗ thế
này thuận lợi và xứng đáng cho "quần hùng tụ hội". Lại nghĩ đến Văn nghệ
Langbian chưa có một chỗ nào cho anh em gặp gỡ thuận tiện, trong khi Đà
Lạt lại là một thành phố du lịch mà bạn bè văn nghệ khắp nơi thường
xuyên qua lại.
Chúng tôi trao đổi sơ qua công việc với Cao Duy Thảo, ủy viên Ban
chấp hành Hội văn nghệ Phú Khánh, phó tổng biên tập tạp chí Cánh E'n và
Thế Vũ, ủy viên ban thư ký Hội văn nghệ Nha Trang, hẹn giờ làm việc
chính thức với lãnh đạo hội và hai tạp chí.
Gần trưa, Cao Duy Thảo và Thế Vũ lại đến phòng nghỉ của đoàn ở nhà
khách tỉnh ủy để hội ý thêm. Trong căn phong số 5 tầng trệt của nhà
khách này, mầm sống một cuộc đấu tranh đòi dân chủ bắt đầu. Cao Duy
Thảo, Thế Vũ, Bùi Minh Quốc, Bảo Cự cùng với Hữu Loan sau khi hội ý đã
thống nhất giao cho Bảo Cự soạn thảo một bản kiến nghị và một bản tuyên
bố để thông qua trong cuộc họp giữa đại diện các hội và tạp chí ngày hôm
sau.
- Kiến nghị của các hội liên hiệp văn học nghệ thuật, các tạp chí văn
nghệ địa phương về một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động văn
học nghệ thuậtê dựa vào và phát triển thêm kiến nghị mà trước đây, tháng
9-1988, Hội văn nghệ Lâm Đồng đã ký chung với Hội văn nghệ Nguyễn đình
Chiểu, Bến Tre, cũng như kiến nghị của các tạp chí văn nghệ miền Trung
tháng 3-1988.
Bản kiến nghị , sau khi nhận định tình hình chung, nêu cụ thể năm
điểm về yêu cầu xác định vai trò, vị trí của hội văn nghệ địa phương; sự
tài trợ của nhà nước; quyền ra báo, tạp chí, lập nhà xuất bản; việc ban
hành các chính sách ưu đãi đối với các hoạt động văn hóa văn nghệ; và
đặc biệt là yêu cầu cách chức những người có trách nhiệm ở Ban tuyên
huấn trung ương, Bộ thông tin, Ban tổ chức chính phủ đã làm trái với
nghị quyết của Đảng. Chính điểm 5 của kiến nghị này đã làm nhức nhối
nhiều người ở một số cơ quan của trung ương và cả các địa phương có liên
quan, gây nên nhiều cuộc tranh cãi gay gắt trong cả một quá trình dài.
Kiến nghị này có đại diện của ba hội Lâm Đồng, Phú Khánh, Nha Trang
và ba tạp chí Langbian, Cánh E'n và Văn nghệ Nha Trang ký.
- Tuyên bố của những người hoạt động, yêu thích văn học nghệ thuật và
hưởng ứng đổi mới về một số vấn đề thời sự văn nghệ và chính trị hiện
nayê gồm ba điểm: ủng hộ kiến nghị của các hội và các tạp chí văn nghệ
địa phương; yêu cầu làm sáng tỏ những vấn đề chung quanh hội nghị lần
thứ VII Ban chấp hành Hội nhà văn khóa III và về tuần báo Văn nghệ; yêu
cầu thực sự thay đổi về tổ chức, cách chức hoặc thay thế ngay những
người phụ trách các cơ quan của trung ương trong ngành văn hóa văn nghệ
cũng như trong các ngành khác đã tỏ ra chống đổi mới, thiếu tích cực
hoặc thiếu năng lực thực hiện đổi mới.
Bản tuyên bố ký với tính cách cá nhân này ra đời vì qua kinh nghiệm
làm việc với một số hội ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Thuận Hải và ngay ở
Phú Khánh, Nha Trang, ký với tính cách tổ chức thường có nhiều lấn cấn
về quan điểm, về nguyên tắc, về điều kiện cụ thể của từng hội, do đó bản
tuyên bố cá nhân dễ tập hợp được lực lượng, thực hiện nhanh chóng vì khi
ký mỗi người hoàn toàn tự nguyện và tự do.
Mặc dù đoàn văn nghệ Langbian đi qua và lưu lại ở mỗi địa phương chỉ
vài ngày, việc gặp gỡ, phổ biến rất hạn chế nhưng đã thu thập được 118
chữ ký. Người ký cuối cùng và duy nhất ở Hà Nội là Nguyễn Thụy Kha. Do
tôn trọng Ban bí thư trung ương Đảng và Tỉnh ủy Lâm Đồng, khi đoàn biết
Ban bí thư và Tỉnh ủy Lâm Đồng đã có ý kiến về chuyến đi lúc đoàn đang ở
Huế, đến Hà Nội đoàn văn nghệ Langbian không đưa bản tuyên bố này ra lấy
chữ ký nhưng Nguyễn Thụy Kha khi biết đã yêu cầu đưa ra và ký ngay lúc
đang uống bia.
Người biết muộn và ký tên qua thư ủng hộ về sau là Nguyễn Bá ở Hậu
Giang. Người tiếc đã không có mặt để ký tên một lúc mười lần là Ngô Minh
ở Huế.
Chung quanh bản tuyên bố này có biết bao nhiêu ý kiến tranh luận đến
mãi về sau này, ba tháng sau chuyến đi vẫn chưa kết thúc.
Phải chăng đây là cách tập dợt dân chủ, một hình thức biểu tình trên
giấy, một kiểu "biểu tình chạy" của trí thức và anh em văn nghệ? Phải
chăng đây là một cách vận động, xách động thậm chí "kích động lật đổ"?
Cách làm như thế đã cần thiết chưa, có lợi hay không có lợi, có làm phức
tạp thêm tình hình vốn đã phức tạp hay không? Chúng tôi sẽ nói rõ về
cuộc tranh luận này sau, nhưng có điều trong chuyến đi dọc đường đất
nước, bản tuyên bố này chính là một "hòn đá thử vàng" quan điểm và bản
lĩnh của từng người. Có người chỉ nghe qua là ký ngay không cần đọc lại,
có người suy nghĩ đắn đo đọc đi đọc lại nhiều lần mới ký, có người đã ký
còn tự ý ghi tên nhiều người khác không có mặt lúc đó mà mình tin rằng
chắc họ sẽ ký khi biết, có người phát biểu ủng hộ nhưng không ký vì
nhiều lý do này khác, có người bị người khác kích động vẫn không ký, có
người ký xong rồi ngày sau lại xin xóa tên, có người đã tan họp ra về
còn quay lại yêu cầu được ký...
Hai bản kiến nghị và tuyên bố trên được đại diện ba hội và ba tạp chí
thông qua ngày 9-11-1988, đánh máy tại Hội văn nghệ Nha Trang, công bố
lần đầu trong cuộc hộp hội viên và cộng tác viên của hai hội Phú Khánh
và Nha Trang chiều 10-11-1988, cũng tại trụ sở Hội văn nghệ Nha Trang và
sau đó công bố lần đầu trước công chúng tại cuộc gặp gỡ ở Câu lạc bộ
trung tâm du lịch Thanh niên Nha Trang tối 10-11-1988.
Phú Khánh, Nha Trang vừa trải qua cơn bảo số 10. Buổi sáng biển Nha
Trang sau cơn bão vẫn còn cái gì đe dọa chưa tan. Mặt biển xám tro, đục
ngầu, vỗ vào bờ những đợt sóng vỡ bọt trắng hoen ố giận dữ, hất lên bao
nhiêu rác rưởi như không muốn chấp nhận những thứ bẩn thỉu trong lòng
đại dương mênh mông của mình. Xa tít là một dáng núi mờ chìm trong mây,
gần hơn mấy dãy núi chỉ còn là những nét vẽ xanh lam đậm nhạt. Biển xa
cũng màu lam hòa vào chân trời u tối lớp lớp mây xám nặng nề. Hàng dừa
ven biển im lìm chỉ khẽ động vài cành lá buông xõa mệt mỏi.
Vài người tắm biến hiếm hoi e dè lội xuống nước một chút, sóng xám xô
tung mặt vội vàng trở vào bỏ về. Trên bờ một người đàn ông và một đứa
con nhỏ ngồi chồm hổm nhìn ra khơi. Người bố gặm ổ bánh mì mặt đăm
chiêu. Đứa bé một tay cầm ổ bánh, tay kia chống cằm vẻ suy tư như người
lớn. Có phải là sự chờ đợi vô vọng đối với mọi người trong mọi hoàn
cảnh?
Viện Pasteur hình như lặng lẽ hơn. Tòa nhà nặng nề với những hàng cột
lớn và tường quét vôi màu vàng đậm im vắng nhìn ra biển. Sau hàng rào
sắt và cổng khóa kín, một bảng đá ghi "Khu di tích bác sĩ A. Yersin
(1863-1943)".
Tượng Yersin trước sân nhỏ bé, sơn đen huyền, chiếc đầu hói, bộ râu
mép rậm dính với râu c^`ăm chổi xể bạnh ra trông dữ dội nhưng đôi mắt
lại ẩn một nỗi buồn mệt mỏi như một con sư tử già nhớ tiếc quá khứ. Nhìn
nghiêng, cổ tượng vươn dài, cong xuống chịu đựng một sức nặng vô hình
nghiệt ngã đè lên số phận như tự mình nhận v'ác thập tự giá khổ ải cho
con người. Đây là một pho tượng bán thân nhỏ nhưng gây ấn tượng mạnh.
Tượng Yersin làm chúng tôi liên tưởng đến buổi nói chuyện trước đây
với nhà thơ Giang Nam, chủ tịch Hội văn nghệ Phú Khánh. Giang Nam đã kể
về cuộc đấu tranh của giới văn hóa văn nghệ Phú Khánh để giữ tên đường
Yersin và những di tích về Yersin, những công trình nghiên cứu về Yersin
đang được giới trí thức, văn nghệ ở đây tiến hành. Chúng tôi cũng suy
nghĩ về những việc mà giới trí thức và văn nghệ ở Đà Lạt phải làm về
Yersin vì Yersin được coi là một trong những người đầu tiên tìm ra Đà
Lạt, thành phố du lịch tuyệt vời của Tây nguyên. Đã có giả thuyết khác
nói rằng Nguyễn Thông mới là người đầu tiên phát hiện vùng đất này. Đây
là vấn đề cần phải làm rõ bằng nghiên cứu khoa học, không thể có định
kiồên đối với người nước ngoài hay thiên vị đối với người trong nước. Dù
sao đi nữa vai trò của Yersin đối với Đà Lạt không nhỏ và chúng ta không
được quên điều này vì đó là biểu hiện của một dân tộc có văn hóa.
Ơ' Nha Trang theo dõi tin tức trên đài phát thanh và truyền hình về
thiệt hại do cơn bão số 10 gây ra, chúng tôi chia sẻ với bạn bè Nha
Trang về nỗi đau thiên tai muôn đời của miền Trung và cũng có trao đổi
về việc tiến hành các cuộc gặp mặt, sinh hoạt văn nghệ trong thời điểm
này, tại đây, có gì lấn cấn không. Tuy nhiên cuối cùng anh em nhất trí
cứ làm vì nếu những sinh hoạt như thế có nội dung tiến bộ, góp phần thúc
đẩy công cuộc đổi mới thì đó cũng là cách góp phần vượt qua khó khăn. Vả
lại trước đây, trong chiến tranh, giữa đạn bom máu lửa, tiếng hát lời
thơ vẫn cất lên đó thôi, đâu phải vì đau thương mà chúng ta tắt lời thơ,
bặt tiếng hát.
Tại Nha Trang, thời gian này anh em văn nghệ cũng đang bàn bạc sôi
nổi về hai lá thư của Chế Lan Viên và Nguyễn Khải gởi cho ban bí thư Hội
nhà văn. Hai lá thư được đánh máy chuyền tay phổ biến khá rộng. Sau này
chúng tôi được biết hai lá thư không phải chỉ phổ biến ở đây mà còn ở
nhiều nơi khác. Ơ' đây chúng tôi mới được đọc thư Chế Lan Viên, chưa
được đọc thư Nguyễn Khải.
Thư của Chế Lan Viên, không biết có phải là của nhà thơ Chế Lan Viên
nổi tiếng mọi người đều biết hay do ai đó trùng tên, mạo danh, dài sáu
trang đánh máy, thật ra là một lá thư "ly kỳ rùng rợn".
Tác giả lá thư tự cho mình là người ủng hộ đổi mới, tự khen mình về
việc đánh giá đúng thơ lãng mạn tiền chiến, siêu thực, hiện thực lãng
mạn, ca ngợi việc làm của ban thư ký Hội nhà văn là kịp thời, đúng; cho
văn học dự báo là sai; chê Lại Nguyên Ấn láo khoét, ngu xuẩn, xung kích
mà dốt; tố Thanh Thảo quỵt tiền nhuận bút của Xuân Diệu, Nguyễn Duy tự
phao mình sẽ là thường vụ, các nhà văn đi Liên Xô buôn bán; cho Nguyên
Ngọc là thâm hiểm và phải cách chức, vụ cả nước đánh Đặng Bửu là Pôn Pốt
nước; Nguyễn Huy Thiệp đổi mới bằng chửi bới vu cáo, bắt ăn cứt, thiến
dái... Hầu như không thiếu chuyện gì trên đời nữa.
Ngoài những chuyện trên, đặc biệt lá thư dành đến hai trang để nói về
việc tạp chí Langbian đã đăng "Đề dẫn" của Đảng đoàn Hội nhà văn năm
1979, thanh minh rất dài dòng và cuối cùng quy kết Langbian số 3 rất xấu
và không hiểu tại sao lên án luôn tạp chí Sông Hương và Hoàng Phủ Ngọc
Tường là cơ hội trong vấn đề này.
Lá thư này đã gây "ân oán giang hồ" rất lớn. Có người nói đây mới
chính là con người thực của Chế Lan Viên hiện nguyên hình lúc cuối đời,
có người nói Chế Lan Viên đã phát điên vì bệnh tật đau ốm, có ngưồi nói
đây là một đòn đánh vào đổi mới trong văn nghệ. Có một ông nào đó, đọc
lá thư (bản mà sau đó chúng tôi nhận được) ức quá cứ mỗi đoạn lại phê ra
ngoài lề một câu phản ứng đen đặc từ đầu tới cuối. Có người đề nghị đăng
lên báo để "rộng đường dư luận". Riêng Hữu Loan đề nghị quay ronéo phổ
biến rộng để anh em văn nghệ nghiên cứu học tập.
Sau chuyến đi vì chưa có giấy phép ra số 4, ban biên tập tạp chí
Langbian đã có bài cậy đăng ở các báo để trả lời Chế Lan Viên và nhiều
người khác được nhắc đến trong thư cũng đã lên tiếng.
Những bàn tán chung quanh hai bức thư của Chế Lan Viên và Nguyễn Khải
càng làm cho buổi đọc thơ ở Câu lạc bộ trung tâm du lịch thanh niên Nha
Trang thêm ý nghĩa.
Từ câu chuyện"Màu tím hoa sim", Hữu Loan nói rộng thêm về sự chân
thật trong thơ và cái giả tong cuộc sống. Bài thơ đã vượt không gian và
thời gian, đi vào lòng người mặc dầu bị ngăn cấm thô bạo và ấu trĩ.
""Chuyện tôi về" bằng thơ của Hữu Loan là một khúc tráng ca bi phẫn:
30 năm không phải chuyện
một sớm một chiều
một ngày tù đã dài
như thế kỷ
đấy là tù trong ngục tối
không nghe thấy gì
không nhìn thấy gì
khác vô cùng với tù
ngoài đời, tù giữa chợ
lúc nào cũng phải chứng kiến
phải thấy
phải nghe...
một thứ tội hình
tâm lý chiến
lăng trì
Với những đoạn đối thoại đầy khinh bạc:
- Vì sao anh không làm nhà?
- Vì tôi mắc làm người.
- Tại sao không đi làm cán bộ?
- Đi làm cán bộ và đi ăn cắp là tôi không đi.
Những ai sẽ chối tai và những ai sẽ thông cảm với Hữu Loan trong bài
thơ dồn nén ba mươi năm nghiệt ngã này? Ai sẽ thấy nhói lòng khi nhìn
Hữu Loan ứa nước mắt, nghẹn giọng lúc đọc đến đoạn tất cả nhà phải "đi
làm trâu thồ như bố" để kiếm ăn? Ai sẽ thấy trách nhiệm và lỗi lầm của
mình khi đã đưa nhà thơ vào cảnh khốn cùng của cả cuộc sống vật chất và
tinh thần gần một nửa đời người?
Bùi Minh Quốc từ khi lên Đà Lạt, chỉ làm được vài bài thơ tình nhưng
đã nung nấu cho một giai đoạn thơ mới của mình. Mấy bài thơ trữ tình
chính luận lần đầu đọc trong chuyến đi này là sự tiếp nối và phát triển
một Bùi Minh Quốc hào hùng và đầy xúc cảm thời chống Mỹ, với hơi thở
phóng khoáng và quyết liệt của thời kỳ đổi mới đất nước.
Người nghe lặng đi với một đoạn thơ mở đầu nói về Đảng chưa từng có
trước đây:
Không có ai Không có ai Có thể ngẩng nhìn trời Bình tâm mỗi sáng Khi
những thằng đểu còn trong Đảng...
Người nghe nổi gai khi tiếp cận sự thật kinh hoàng mà thơ đã công bố
không chút e dè:
Đồng chí - tiếng ấm lòng máu đỏ
Sao có lúc vang lên lạnh rợn thế này
"Đồng chí" dao đã nằm ém nhẹm dưới lòng tay
Mưu mô đã xong và mọi ngả đường đã giăng cạm bẫy
Và người nghe đã vỗ tay như sấm khi bài thơ chấm dứt bằng một khẳng
định rất "nhân dân":
Suốt một đời bạc tóc dưới mưa bom
Mẹ lầm lũi đào hầm nuôi cách mạng
Con xin nói
với tất cả tấm lòng và lương tri cộng sản
Mẹ chẳng phải đảng viên
Nhưng mẹ có tấm-thẻ đỏ-trái-tim ròng ròng máu ứa
Chính mẹ chứ không ai - mẹ phải nắm quyền
Hỏi tội những thằng thẻ đỏ tim đen
Những tràng pháo tay nồng nhiệt (dĩ nhiên không phải mọi người nghe
đều vỗ cả - mà có những người chỉ nhíu mày) dành cho bài "Những ngày
thường đã cháy lên" trên đây cũng như hai bài "Mẹ đâu ngờ" và "Không có
gì quý hơn độc lập tự do" của Bùi Minh Quốc, ở nhiều nơi trên chuyến đi
dọc đường đất nước phải chăng là sự gặp gỡ và bùng nổ của những điều tâm
huyết đã nung nấu bao người vì niềm đau chung của tổ quốc hôm nay?
Trước khi rời Nha Trang, Bùi Minh Quốc với tư cách hội viên Hội nhà
văn Việt Nam cũng đã kịp hội ý với một số hội viên khác ở đây làm thêm
một kiến nghị nữa về vụ tuần báo Văn nghệ và nghị quyết của ban chấp
hành Hội nhà văn. Đây là vấn đề nổi lên mà những người quan tâm đến văn
học trong cả nước đều theo dõi và có thái độ. Trước đó, Bùi Minh Quốc đã
cùng với mười hai nhà văn nhà thơ ký tên công bố một bức thư ngỏ trên
báo chí và ban chấp hành Hội văn nghệ Lâm Đồng đã họp toàn thể hội viên
thảo luận và thông qua một kiến nghị về vụ việc này.
Do những cuộc họp trước giữa lãnh đạo các hội ở Nha Trang không gặp
được Giang Nam, chủ tịch Hội văn nghệ Phú Khánh vì Giang Nam bận công
tác khác, đoàn văn nghệ Lâm Đồng đã tranh thủ đến nhà gặp Giang Nam với
tư cách là ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam để trao đổi thêm
về tình hình.
Anh em thắc mắc tại sao Giang Nam lại cũng giơ tay "biểu quyết 100%"
thông qua nghị quyết của ban chấp hành Hội nhà văn lên án tuần báo Văn
nghệ trong khi anh em hiểu rằng Giang Nam có quan điểm khác.
Giang Nam than thở: "Trong không khí của hội nghị chắc ai cũng phải
giơ tay thôi. Ban đầu người ta đưa ra dự thảo nghị quyết quy kết tuần
báo Văn nghệ đã có sai lầm nghiêm trọng, nên đấu tranh để sửa lại là
lệch lạc nghiêm trọng đã coi như thắng lợi rồi. Ngay chính Nguyên Ngọc
cũng phải giơ tay biểu quyết để tự kết án mình kia mà".
Bùi Minh Quốc tấn công luôn: "Thế thì anh phải viết bài 'phản tỉnh'
nói rõ lại quan điểm của mình, nếu không quần chúng sẽ đánh giá anh, anh
sẽ mất uy tín".
Sau này nhiều anh em nói đùa: "Đáng lý Giang Nam phải viết bài 'Tôi
đã bị lừa như thế nàó và công bố trên báo chí".
Rõ ràng sự xung đột giữa hai xu thế, lực lượng đổi mới và bảo thủ đã
bùng nổ, thử thách quan điếm, bản lĩnh và cả nhân cách của từng người.
Nhiều thủ đoạn, xảo thuật về các mặt tổ chức, phương thức đấu tranh đã
được sử dụng vào cuộc đấu. Rõ ràng là những người đổi mới muốn chiến
thắng phải nhanh chóng thống nhất ý chí, tập hợp lực lượng và mài sắc vũ
khí của mình để vào cuộc.
***
Đoàn văn nghệ Langbian muốn rời Nha Trang sớm để tiếp tục cuộc hành
trình còn rất dài nhưng sau cơn bão số 10 và lũ lụt, cầu Tuy Hòa đã bị
tắc chưa đi được nên đoàn quyết định đi vòng lên đường Tây nguyên. Thực
ra đoàn cũng muốn đi qua Đaklak và Gia Lai-Kontum, hai anh em Tây nguyên
ruột thịt của Langbian nhưng vì đường quá xa, xăng và tiền chuẩn bị ít
ỏi nên ban đầu định không đi, nhưng nay vì tắc đường quốc lộ 1 nên đoàn
quyết tâm đi. Ấu cũng là "số mệnh" nếu có "số mệnh", vì chính tại Đaklak
mà chuyến đi đã trở thành một "cuộc vận động có tính cách bè phái, mang
màu sắc chính trị, lợi dụng công khai và dân chủ" như bị quy kết sau
này, xuất phát từ sự báo động của Đaklak.
Quốc lộ 19 đi Buôn Ma Thuột xấu quá. Quãng đường từ Ninh Hòa qua khỏi
đèo Phụng Hoàng chỉ khoảng 60 cây số mà xe đi mất hơn hai giờ nên đoàn
xuất phát ở Nha Trang lúc 1 giờ trưa mà đến gần 6 giờ chiều mới đến Buôn
Ma Thuột.
Đoàn tìm đến Ban vận động thành lập Hội văn nghệ Đaklak ở cơ quan Sở
văn hóa thông tin thì mọi người đã về cả, đoàn nhờ mấy nhân viên ở tập
thể tại đây nhắn lại hẹn sáng mai làm việc và đi tìm chỗ nghỉ. Các nhà
khách ở trung tâm thị xã đã hết chỗ nên người ta giới thiệu đến nhà
khách tỉnh ủy ở biệt điện Bảo Đại cũ.
Ơ' đâu cũng gặp dinh, điện, nhà nghỉ của Bảo Đại. Vua có khác!
Biệt điện Bảo Đại là một khu vườn yên tĩnh ở ngoại ô của thị xã, rộng
khoảng hai hecta. Một ngôi nhà gác dài bằng gỗ, đơn giản nhưng hài hòa
giữa khung cảnh chung quanh. Quả thực những nhà thiết kế có trình độ
thẩm mỹ cao. Cổng vào biệt điện có lối đi lớn ở giữa và hai đường chung
quanh chạy vòng ra sau trải nhựa. Vườn trồng đủ loại cây, mỗi thứ hai
cây, trồng đối xứng quanh trục đường. Ngay sau cổng vào là hai cây long
não lớn, cành mọc từ gốc và vươn tán sum suê như một cây đại thụ. Rồi
dương liễu, soài, bơ, dừa, săng lẻ, ngọc lan, tùng... Tất cả đều có vẻ
hùng vĩ, hoang dã và hơi âm u.
Người ta mới xây thêm mấy dãy nhà phụ làm phòng ngủ cho khách du
lịch, trông thực dụng, xấu xí, phá vỡ vẻ hài hòa của khung cảnh. Chỉ có
một ngôi nhà gác mới xây kiểu nhà sàn dân tộc dành cho chuyên gia nước
ngoài trông có vẻ thẩm mỹ.
Ta lên án sự hưởng thụ của vua chúa ngày xưa nhưng ngày nay lại dùng
các dinh, điện này để làm nơi nghỉ ngơi cho các ông lớn, không phải chỉ
ở Buôn Ma Thuột mà nhiều nơi khác cũng thế. Có phải thời đại nào những
kẻ cầm quyền cũng thích hưởng thụ? Tại sao không dành những nơi này để
làm cung thiếu nhi, nhà bảo tàng văn hóa hay nhà sáng tác cho văn nghệ
sĩ mặc dù cũng đã có chủ trương như thế? Anh em văn nghệ nói thẳng điều
này có làm cho các "ông lớn" phải nhức nhối không, hay lại nổi giận lên
và chụp ngay một cái mũ lên đầu văn nghệ? Nếu văn nghệ là lương tri thì
văn nghệ phải nói thẳng điều mình nghĩ, văn nghệ chân chính không làm
văn nô, bồi bút cho bất cứ ai và không thế lực bạo quyền nào có thể dập
tắt tiếng nói chân chính của văn nghệ.
Sáng hôm sau đoàn đến Sở văn hóa thông tin, rất may gặp được toàn thể
thường trực ban vận động thành lập Hội văn nghệ Đaklak. Nghe nói đây là
ban vận động được lập lần thứ ba, vì trước đó hai lần đều do đấu đá nhau
nên không thành, phải giải thể. Ban vân động hiện nay có Châu Khắc
Chương, trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy kiêm trưởng ban; Dương Thanh Tùng,
phó giám đốc Sở văn hóa thông tin kiêm phó trưởng ban; Y Tim, phó trưởng
ban và Đinh Hữu Trường ủy viên thường trực, và một số ủy viên khác.
Thường trực Ban vận động mới có quyết định chỉ định bộ phận chuyên trách
nên triệu tập họp để bàn kế hoạch. Thế là đoàn văn nghệ Langbian đã đến
đ'úng lúc (hay không đúng lúc?) để làm việc với cả tập thể thường trực
ban vận động. Rút kinh nghiệm ở Nha Trang - Phú Khánh, đoàn văn nghệ
Langbian phân công như sau trong các cuộc tiếp xúc: Bùi Minh Quốc,
trưởng đoàn đại diện Hội văn nghệ Lâm Đồng làm công tác ngoại giao giới
thiệu khái quát về các hoạt động của Hội văn nghệ Lâm Đồng và những vấn
đề chung cần trao đổi; Bảo Cự giới thiệu tạp chí văn nghệ Langbian, kiến
nghị của Hội văn nghệ Lâm Đồng về vụ tuần báo Văn nghệ, kiến nghị của
các hội văn nghệ địa phương và bản tuyên bố cá nhân (đã thông qua ở Phú
Khánh); Hoàng Như Thủy An, Lưu Hữu Nhi Dũ lo phát hành sách, tạp chí
Langbian. Ngoài ra Hữu Loan và các thành viên của Hội văn nghệ Lâm Đồng
khi tiếp xúc với giới văn nghệ và công chúng sẽ tiếp xúc với tư cách là
những người sáng tác, hoạt động văn học nghệ thuật.
Sau khi đoàn văn nghệ Langbian trình bày mọi chuyện, từng thành viên
của thường trực ban vận động Hội văn nghệ Đaklak đều phát biểu hoan
nghênh nhiệt tình và xu thế đổi mới của Lâm Đồng nhưng vì ban vận động
mới thành lập, chưa có tư cách pháp nhân(?), chưa họp bàn kế hoạch nên
không tiện ký chung kiến nghị với các hội bạn mà sẽ có ý kiến riêng sau.
Đang lúc trao đổi, Văn Thanh, trưởng ban biên tập tạp chí Văn nghệ
Đaklak, đến báo tin sáng nay Phòng văn nghệ đài phái thanh - truyền hình
Đaklak có tổ chức một cuộc tọa đàm góp ý một số bài thơ đang có vấn đề
tranh luận, chưa được phát trên đài và ban tổ chức nghe tin có đoàn văn
nghệ Langbian đến nên mời sang tham dự.
Đoàn nhanh chóng kết thúc cuộc làm việc với ban vận động Hội văn nghệ
để sang dự với đài đúng lúc Văn Thảnh, trưởng phòng văn nghệ của đài cho
xe đến đón.
Cuộc tọa đàm ở đài có khoảng hơn mười người dự, gồm cán bộ phòng văn
nghệ và một số cộng tác viên, tập trung trao đổi về hai bài thơ của
Nguyễn Mạnh Tấn và Văn Thanh.
Nguyễn Mạnh Tấn, một người viết tại chỗ từ trước giải phóng, hiện nay
là chủ nhiệm một hợp tác xã chế biến cà-phê ở Buôn Ma Thuột, với bài thơ
"Sáng nay" phô bày một hiện thực đau đớn, đúc kết trong một so sánh cảm
giác tâm trạng lạ lùng:
Thời chiến
Sáng nay
Thức dậy
Mới thấy mình còn sống
...
Thời bình
Sáng nay
Thức dậy
Thấy mình sắp chết
Và hình ảnh cuộc đời thường xót xa với tình cảnh hết gạo, hết cám,
hết mắm, vợ bó gối, con gục đầu, heo tung chuồng, với hàng ngàn nghị
quyết hay nhưng thực hành quá dở, với rừng cờ, pa-nô, áp-phích hoàn
thành kế hoạch nhưng người ta vẫn vượt biên, với xe tăng ngủ vùi trên
tảng đá (tượng đài xe tăng chiến thắng ở ngã sáu Buôn Ma Thuột), với
Chúa biến thành tượng đá rồi Chúa lại vẫy tay chào...
Đúng là một bài thơ "khó chịu".
Bài "Bạn bè ơi, có lẽ nào? " của Văn Thanh rất dài, tới bảy trang
đánh máy, nhưng nhức nhối nhất là hai câu:
Tôi bây giờ như quả trứng ung
Đảng ấp suốt hai mươi lăm năm không nở được
Những người tại chỗ dự tọa đàm phát biểu ý kiến rất sôi nổi, hầu như
thống nhất quan điểm là các bài thơ tuy phản ánh hiện thực nhưng tính tư
tưởng yếu, bi quan, nói cho hả giận, căm giận nhiều hơn yêu thương, tâm
nhiều nhưng tình ít, không chỉ ra được lối thoát, lãnh đạo không thể
chấp nhận...
Khi được mời phát biểu, anh em văn nghệ Langbian đều hoan nghênh việc
làm của đài, vì tuy không sử dụng bài và trong tọa đàm có nhiều ý kiến
phê phán nhưng đã tổ chức tọa đàm là đã tôn trọng văn nghệ, tôn trọng
tác giả (có mời tác giả dự), tuy nhiên ý kiồên riêng về các bài thơ và
những vấn đề quan điểm sáng tác lại khác với những ý kiến phê phán đã
được phát biểu.
Bảo Cự cho rằng nỗi đau nào của con người cũng cần được phản ánh vào
văn học, kể cả những niềm đau rất riêng và niềm đau chung của mọi người.
Riêng nỗi đau trong các bài thơ trên lại không đơn lẻ mà rất phổ quát,
đó là sự th.ật cần được nói ra. Không phải bài thơ nào cũng chỉ ra được
lối thoát. Tìm lối thoát ra khỏi hiện thực đau buồn của đất nước là
trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt là của những người lãnh đạo chứ
không phải là của riêng nhà thơ, trong một bài thơ. Văn nghệ nói lên sự
thật, dù gay gắt cay đắng nhưng lãnh đạo phải lắng nghe chứ văn nghệ
không phải gò bút cố viết, cố nói cách nào cho vừa lòng lọt tai lãnh
đạo.
Hữu Loan, từ trường hợp riêng đặc biệt của mình, nói về cái chung rất
gay gắt: "Các anh đã lạc hậu sau tôi 30 năm vì bây giờ mới đặt ra những
vấn đề như thế. Tôi vẫn là cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời không chịu
đẽo tròn để lăn long lóc. Cái tâm mới là điều quan trọng trong văn học.
'Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tàí. Về kỹ thuật không dám chữa thơ ai, nếu
thơ xuất phát từ tâm. Sai lầm của chế độ là đã đề cao giai cấp tính, đến
chỉ còn đẳng cấp thống trị. Giai cấp tính không bằng nhân đạo tính. Văn
chương của quần chúng hiện nay rất vĩ đại, thống trị phải soi vào để
sửa. Những người tạo ra sai lầm phải sửa chứ không phải bắt văn nghệ
sửa. Không được ỉa ra để bắt người ta hốt, phải tự hốt đi.
Ngày trước tôi làm bài thơ có câu:
Cụ Hồ như Trời cao
Kêu làm sao cho thấu
Xuân Diệu biên tập, yêu cầu sửa nhưng tôi không sửa vì rõ ràng cụ Hồ
không xa cách quần chúng nhưng ở nhiều địa phương nhân dân bị đàn áp vẫn
kêu không thấu cụ Hồ.
Ngày xưa Trần Tế Xương đã viết:
Một tuồng rách rưới con như bố
Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng
Đó là nỗi đau của thực tế cuộc sống. Chúng ta viết hôm nay cũng thế
mà thôi.
Theo Bùi Minh Quốc, bài thơ của Nguyễn Mạnh Tấn là tiếng kêu cứu từ
dưới đáy xã hội, rất thật lòng nên người nghe phải trăn trở, không thể
thờ ơ. Điều đó sẽ góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới hôm nay vì để đổi
mới phải làm hai điều: giải quyết thế lực bảo thủ trong bộ máy Đảng và
Nhà nước, đồng thời giải quyết tình trạng thờ ơ, đứng ngoài cuộc của
nhiều người. Bài thơ Văn Thanh là tiếng nói đầy trách nhiệm về sự sai
lầm kéo dài vừa qua nên cần phải được lắng nghe và trân trọng.
Sau ý kiến của khách, cuộc tọa đàm sôi nổi hẳn lên, đi vào tranh luận
nhưng lúc đó đã quá trưa rồi. Anh em đề nghị chiều tiếp tục trao đổi nữa
và chuyển thành một buổi gặp gỡ nói chuyện văn nghệ giữa đoàn khách với
anh em sáng tác ở địa phương, mời thêm người tham dự. Tuy đến tối đài
phải tổ chức một buổi gặp gỡ giữa đoàn khách với công chúng yêu văn thơ
của thị xã nhưng đài vẫn nhiệt tình tổ chức tiếp cuộc gặp gỡ buổi chiều.
Điều lạ là những người đã phê phán mạnh mẽ thơ Nguyễn Mạnh Tấn và Văn
Thanh khi được yêu cầu đọc thơ lại đọc những bài có nội dung và xu thế
tương tự. Phải chăng người ta đã nói không thật lòng, theo một ý đồ chỉ
đạo hay người ta nói theo những giáo điều đã trở thành tín điều, thành
thói quen, nhất là trong hội nghị, nhưng tự thâm tâm, với sự tác động
mạnh mẽ của thực tế cuộc sống, người ta đã nghĩ khác và viết khác hơn
trong tác phẩm đích thực của mình? Phải chăng đó là tín hiệu đáng mừng
của đổi mới? Chính trong buổi chiều này, những người tham dự đã ký vào
bản "tuyên bố" đòi dân chủ mà sau này họ phải bị kiểm điểm(?!).
Buổi tối gặp gỡ công chúng là một buổi thú vị và chứng tỏ tài tổ chức
của đài. Tất cả chỉ chuẩn bị trong một buổi chiều nhưng hội trường đầy
người, gồm nhiều thành phần, từ cán bộ lãnh đạo cho đến sinh viên, học
sinh. Dương Thanh Tùng giới thiệu đoàn khách rất trân trọng. Linh Nga,
cô gái "ĐDê, nguyên văn công, là người dẫn chương trình tuyệt hảo, sinh
động với giọng Hà Nội ngọt ngào. Có cả người ngâm thơ và hát nhạc minh
họa.
Hữu Loan lại nói chuyện "Màu tím hoa sim", đọc"Hoa lúa","Khát vọng
hiến dâng", Bùi Minh Quốc nói về hình ảnh người mẹ trong thơ mình từ "Mẹ
đào hầm" thời kháng chiến và những điều "Mẹ đâu ngờ" hôm nay, qua mấy
bài thơ chính luận trữ tình nẩy lửa. Bảo Cự nói về nhóm Việt và văn học
yêu nước tiến bộ tại các đô thị miền Nam trước đây. Hoàng Như Thủy An
ngâm "Bên kia sông Đuống" hào hùng của Hoàng Cầm đã bao lần ngân vang
trong những đêm đốt lửa đấu tranh của sinh viên học sinh miền Nam. Lưu
Hữu Nhi Dũ, thành viên trẻ nhất của đoàn, sinh viên đại học tổng hợp mới
ra trường cũng được mời đọc thơ tình. Do ban tổ chức quý khách yêu cầu
và người nghe cũng nhiệt tình - dù buổi gặp gỡ nói chuyện kéo dài đến
khuya - nên tất cả thành viên trong đoàn đều phải xuất hiện. Đây là buổi
ra mắt công chúng đầy đủ nhất của đoàn trong suốt chuyến đi. Phải chăng
điều này đã tác động mạnh đến Đaklak, gây nên những phản ứng không thuận
lợi sau này?
Không phải chỉ chừng đó. Lại còn thêm một buổi gặp gỡ nữa. Sáng hôm
sau, đoàn đã dự định lên đường nhưng anh em ở địa phương lại níu kéo ở
thêm một ngày nữa để dự sinh hoạt kỷ niệm 100 ngày mất nhà thơ Thanh
Tịnh.
Buổi sinh hoạt này tổ chức tại quán cà-phê Nhớ. Ơ' đây quán "Nhớ"mới
ra đời nên được phép"nhớ", chứ quán "Bâng khuâng", một quán nổi tiếng từ
trước giải phóng thì sau 75 không được"bâng khuâng" nữa, phải tự xóa
bảng hiệu vì bị phê phán đặt tên như thế thiếu quan điểm, mất lập
trường. Dù sao, sự tồn tại của quán Nhớ cũng là một tiến bộ đáng mừng.
Quán Nhớ đơn sơ, mái tranh, vách liếp, trang trí đơn giản, bàn ghế
làm bằng gốc cây đặt chung quanh các cọc tiêu trong một khu sân nhỏ
nhưng gọn gàng ấm cúng. Chủ quán là anh Thông, một người có đầu óc tổ
chức. Quán đã thực hiện nhiều buổi sinh hoạt văn nghệ như triển làm
tranh, ảnh nghệ thuật, giới thiệu nhạc tiền chiến, thơ Quang Dũng... Đây
là một hình thức tổ chức, tập hợp mới mẻ, đáng chú ý. Nghe chủ quán nói
ban đầu rất khó khăn, phải làm nhiều đơn từ và phải xin đến sáu con dấu
mới được phép làm. Những sinh hoạt ở đây được cán bộ các ngành văn hóa
văn nghệ tham dự và giúp đỡ.
Buổi sinh hoạt kỷ niệm 100 ngày mất của Thanh Tịnh quy tụ khá đông
người dự gồm nhiều nhóm, anh em hoạt động văn nghệ, giáo viên, sinh viên
học sinh và cả những người yêu thơ ở cách thị xã 20, 30 cây số cũng tìm
đến. Có hai người nói chuyện về cuộc đời, sự nghiệp thi ca của Thanh
Tịnh. Ban tổ chức giới thiệu hai người này là sĩ quan Quân đội nhân dân
Việt Nam về hưu, trước đây đã có gặp gỡ, từng công tác chung với Thanh
Tịnh. Tiếp đó là minh họa thơ, các ý kiến phát biểu về thơ Thanh Tịnh.
Vì nội dung chuẩn bị sẵn tương đối dài nên đoàn khách chủ yếu ngồi nghe,
không phát biểu ý kiến. Trước khi ra về, do ban tổ chức và những người
tham dự yêu cầu, Hữu Loan có lên phát biểu vài lời và đọc bài "Màu tím
hoa sim".
Ấ'n tượng của đoàn về Đaklak rất tốt đẹp, rất "nhớ" và "bâng khuâng",
nhưng thật bất ngờ, sau này khi ra đến Huế, đoàn mới biết Ban tuyên giáo
Đaklak đã báo cáo lên Ban tuyên huấn Trung ương về việc làm sai trái của
đoàn văn nghệ Langbian đã đi vận động, có tính cách bè phái, xách động,
kích động, v.v... và v.v... Sau đó, với điện mật của Ban bí thư Trung
ương Đảng gởi Tỉnh ủy Lâm Đồng và tất cả các tỉnh thành ủy, công văn của
U'y ban trung ương Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam gởi các hội văn
nghệ và ban tuyên giáo các tỉnh, thành trong cả nước nghiêm khắc phê
phán chuyến đi của đoàn văn nghệ Lâm Đồng làm chuyến đi nổi lên như một
sự kiện nghiêm trọng. Tuy nhiên đó là chuyện về sau, còn bây giờ thì
đoàn văn nghệ Langbian vẫn phơi phới tiếp tục cuộc hành trình, trên
chiếc xe sực nức mùi cà-phê lừng danh Buôn Ma Thuột mà Nguyễn Mạnh Tấn
đã biếu đoàn đến ba ký, sau này đoàn đem tặng lại bạn bè trên dọc đường
đi và uống mãi suốt cả chuyến đi cho tới khi về Đà Lạt vẫn chưa hết.
(Hương vị của cà-phê Đaklak, tấm lòng và tình cảm của anh em văn nghệ
Đaklak đối với Langbian vẫn không hề nhạt đi dù sau này chúng tôi biết
Châu Khắc Dương, trưởng ban tuyên giáo kiêm trưởng ban vận động Hội văn
nghệ Đaklak đã nói là không muốn tiếp đoàn, đã ngăn cản không cho đoàn
đưa các nội dung kiến nghị, tuyên bố ra, đã yêu cầu Sở văn hóa thông tin
cho xăng để tống xuất đoàn đi sớm... Chao ôi! Chúng tôi không buồn cho
mình mà chỉ tự hỏi Hội văn nghệ Đaklak sẽ đi về đâu khi có một người phụ
trách như thế!)
***
Quốc lộ 14 dẫn vào cửa ngõ thị xã Pleiku rực vàng hoa hướng dương dài
đến mấy cây số, tràn lên giữa sườn núi Hàm Rồng. Đây là loại hoa quỳ
dại, hoa nhỏ và dân giã, không chải chuốt đài các như hướng dương của
phương tây, nhưng vào cuối đông này là mùa hoa nở, hàng triệu đóa hoa
quỳ thắp sáng cả một vùng rừng núi.
Hướng dương gợi nhớ nhiều điều:
Lòng em như đóa hướng dương
Trăm nghìn đổ lại một phương mặt trời
(ca dao?)
Hướng dương lòng thiếp như hoa
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương
(Chính phụ ngâm khúc)
Ai là hướng dương, ai là mặt trời? Bao nhiêu người con gái đã hướng
lòng mình về một phương rực rỡ, bao nhiêu người con trai đã xứng đáng là
vầng thái dương ánh sáng chan hòa. Bao nhiêu hướng dương đã tàn và thái
dương đã chìm tắt. Tây nguyên là xứ sở của hướng dương. Đoàn văn nghệ
Langbian ra đi với lời chào tiễn biệt của hướng dương Đà Lạt cuối đèo
Prenn, gặp lại hướng dương ở đỉnh Phượng Hoàng trên đường đến với
Đaklak, bây giờ lại đi giữa rừng hoa vàng trên lối vào "đất nước đứng
lên" của anh hùng Núp. Hướng dương phải có vị trí xứng đáng hơn trong
xúc cảm của những người sáng tạo văn học nghệ thuật về Tây nguyên.
Hội văn nghệ Gia Lai - Kontum mới được thành lập, ra mắt ban chấp
hành lâm thời tháng trước. Hôm đó văn nghệ Langbian không sang chia vui
được nên lần này đến trước hết là để chào mừng bạn. Trụ sở hội mới được
cấp ở số 86 đường Phan Bội Châu gần trung tâm thị xã. Nhà cũng khá rộng
tuy trang bị ban đầu còn đơn sơ. Một phòng trưng bày tranh, tượng, ảnh
nghệ thuật ngay trong cơ quan chào mừng buổi ra mắt của ban chấp hành
hội vẫn còn.
Chúng tôi gặp hầu như đủ cả lãnh đạo và cán bộ cơ quan hội bạn: chủ
tịch Trịnh Kim Sung, phó chủ tịch Nguyễn Khắc Quán và những người khác
như Nay Nô, Thu Loan, Tuấn, Huy... Cơ quan mới thành lập nhưng đã có
biên chế nhiều hơn Lâm Đồng. Lâm Đồng chỉ có chín người, trong đó có một
chuẩn bị về hưu, có lẽ là một hội văn nghệ tỉnh ít cán bộ nhất nước.
Hội văn nghệ Gia Lai - Kontum rất quý khách, lo cho khách ăn ở chu
đáo. Cũng như nhiều nơi khác đây là sự giúp đỡ quý báu cho đoàn văn nghệ
Langbian trong chuyến hành trình dài vì văn nghệ Langbian giàu tình cảm,
tâm huyết nhưng nghèo vật chất quá. Chúng tôi đã tổ chức một cách hơi
phiêu lưu với tinh thần vừa đi vừa khất thực" bạn bè.
Trong buổi làm việc chung với lãnh đạo hội bạn, bạn tán thành kiến
nghị của ba hội Lâm Đồng, Phú Khánh, Nha Trang đã ký, nhưng có vẻ dè đặt
trước những điểm kiến nghị hơi mạnh mẽ. Bạn trình bày tình hình hội mới
thành lập, còn nhiều khó khăn, cần hết sức tranh thủ lãnh đạo tỉnh bằng
các phương pháp khéo léo, có sức thuyết phục để được hỗ trợ. Việc cụ thể
mà hai hội thống nhất là thảo ra một bản kiến nghị về hợp tác toàn diện
giữa các hội văn nghệ ba tỉnh Tây nguyên hai bên ký ngay và sau đó
chuyển tiếp cho Đaklak. Rõ ràng Tây nguyên là một vùng đất độc đáo của
tổ quốc mà văn hóa văn nghệ cũng có đặc trưng cần phát huy bằng sự phối
hợp hoạt động giữa những người hoạt động văn học nghệ thuật ba tỉnh.
Hội bạn đã nhanh chóng tổ chức một cuộc gặp gỡ với anh chị em sáng
tác và cán bộ các ngành văn hóa tư tưởng tại thư viện tỉnh và một đêm
gặp gỡ công chúng tại Nhà văn hóa trung tâm.
Hầu như ở đâu cũng thế, việc ký hay không ký vào bản tuyên bố cá nhân
là một sự lựa chọn không đơn giản. Chúng tôi coi đó là quyền tự do hoàn
toàn của mỗi người nhưng sự tranh luận, đánh giá của mọi người đối với
mỗi người về việc này lại là quyền của công chúng. Trong cuộc gặp ở thư
viện tỉnh tại Pleiku có giáo sư Đắc tham dự. Giáo sư Đắc đồng tình với
cách đặt vấn đề nhưng vì là cán bộ ở Hà Nội đến địa phương công tác nên
không tiện ký. Đặng Kim Tấn, phó Ban tuyên giáo Gia Lai - Kontum, một
người làm thơ của tỉnh, phát biểu rất dài, đại ý hoan nghênh đổi mới
nhưng cần phải chờ đợi vì nghị quyết 05 mới ra đời một năm, thời gian
cón quá ít, và không đả động gì đến việc ký tuyên bố. Nguyễn Đỗ, một
người làm thơ, đến họp muộn, yêu cầu đưa ngay văn bản đến để ký và phát
biểu hơi gay gắt, đề nghị những người tham dự nói rõ quan điểm của mình,
không nói lòng vòng, phải tỏ thái độ của mình ngay đối với việc ký vào
bản tuyên bố mà theo anh là hoàn toàn cần thiết và chính đáng. Thái độ
vủa Nguyễn Đỗ có thể làm một số người khó chịu. Nhưng biết sao, tỏ thái
độ là quyền của mỗi người và trong nhiều vấn đề của cuộc sống, việc va
chạm về quan điểm là điều bình thường, nhất là trong cuộc đấu tranh cho
đổi mới hiện nay.
***
Chúng tôi rời Gia Lai - Kontum đi Nghĩa Bình, nơi đang khẩn trương
chuẩn bị kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa.
Từ Pleiku, theo quốc lộ 19, qua khỏi đèo An Khê là bắt đầu huyện Tây
Sơn, quê hương Nguyễn Huệ. Đoàn định vào thăm Nhà bảo tàng Quang Trung
nhưng kẹt cầu không đi được. Người ta đang sửa chữa, mở rộng cây cầu nhỏ
bắc ngang qua một nhánh của sông Côn, trên đường đi vào nhà bảo tàng và
các di tích khác nơi quê hương Nguyễn Huệ.
Đi ngang qua nơi này, anh em lại nhớ đến "Phẩm tiết" của Nguyễn Huy
Thiệp và bắt đầu luận về anh hùng và nhân vật anh hùng trong văn học.
Hoạt động văn nghệ kể cũng thú vị. Đi suốt sáu nghìn cây số không bao
giờ hết chuyện. Chuyện nào cũng hào hứng sôi nổi, không phải nói tào lao
để giết thì giờ mà nói bằng tất cả tâm hồn và nhiệt huyết của mình, có
lúc đưa đến tranh cãi gay gắt, ngay trong đoàn.
Mọi người đều thống nhất anh hùng cũng là con người có những khía
cạnh thường tình. Biết yêu, thậm chí yêu nhiều hay nói cách khác, mê gái
cũng là chuyện bình thường của anh hùng, không có gì đáng chê trách hay
hạ phẩm giá của anh hùng. Chính điều đó mới làm cho anh hùng là con
người, gần gũi với con người. Riêng Nguyễn Huệ có ba vợ, theo"Hoàng Lê
nhất thống chí" trước khi ra Bắc cưới Ngọc Hân có tuyên bố một câu rất
dân dã mà cũng rất ngang tàng: "Ta chỉ mới quen gái Nam Hà, chưa biết
con gái Bắc Hà, nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không. "
Luận về anh hùng, đánh giá lại anh hùng là quyền của mọi người và của
lịch sử. Mỗi triều đại có quan điểm riêng, không thể đem quan điểm đó áp
đặt cho hậu thế vĩnh viễn. Lịch sử không đứng nguyên một chỗ và hậu thế
có quyền đánh giá lại lịch sử. Không được dùng lịch sử để che đậy tội ác
của mình hiện nay. Cho nên luận điểm cho rằng"nói xấu Nguyễn Huệ được
thì nói xấu Bác Hồ và các lãnh tụ hiện nay cũng được" là một luận điểm
dễ được nhiều người đồng tình nhưng rất nguy hiểm.
Chúng ta không hạ bệ thần tượng nhưng không tôn sùng thần tượng một
cách mù quáng mà phải đánh giá đúng thần tượng. Đừng để đến khi nhận ra
thần tượng chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài còn bên trong mục ruỗng
rồi thất vọng và niềm tin sụp đổ. Dù là Nguyễn Huệ hay bất cứ anh hùng
nào khác là niềm tự hào của dân tộc, nhưng nếu ta phát hiện ra có điều
gì không tốt, không xứng đáng, |